ĐỌC TẬP THƠ LÀNG QUỲNH
Trần Phương
![]() |
| Bìa 1 Tập thơ Làng Quỳnh |
Tập
thơ Làng Quỳnh do nhà xuất bản văn học 2013 đã ra mắt bạn đọc với
một diện mạo khá hoành tráng dày 150 trang. Một tập thơ mà cả 15
tác giả đều sinh ra ở một ngôi làng nhỏ bé nhất huyện Yên Hưng nay
là thị xã Quảng Yên, có thể xem như một hiện tượng, một dấu ấn của
làng, đấy là chưa kể đến rất nhiều người không biết thông tin, tiềm
năng thơ văn của làng Quỳnh thì vô cùng lớn. Họa sỹ Lê Vân Hải (Bộ Văn
hóa) vẽ bìa bức tranh Cống Quỳnh trước mùa cá, rất khái quát quê
hương là một đóng góp nhỏ của mình với thơ làng. Các trang ruột,
đọc tác phẩm hình dung ra chân dung tác giả về phong cách,
tính cách cũng như các giá trị khác, nên tập thơ
tạo mang sắc màu phong phú đa dạng và lắng đọng hơn rất nhiều những
tập thơ của một tác giả có tên tuổi hay có nghề thơ mà tôi đã đọc. Cho
phép tôi được nói cảm nhận nhân đọc các tác giả trong tập thơ Làng
Quỳnh một cách rất làng Quỳnh. Sau một vài lần đọc tập thơ, tôi rất muốn trả lời câu hỏi tác giả nào xuất
sắc nhất, tài ba nhất? Quả thật là khó, không tài nào tìm được câu
trả lời, tôi mượn lời của anh Nguyễn Đức Hà, nguyên là Chủ tịch UBND
huyện Vân Đồn, bà nội là người họ Trần (giữa) người làng Quỳnh
“Tập thơ này khá đều tay, nhiều bài thơ tôi thấy rất hay, rất tuyệt...”.
Trần
Chiểu góp vào tập thơ nhiều nhất 11 bài, bài thơ nào của ông cũng
như một thông điệp về cuộc sống hiện sinh. Thơ ông trần trụi giàu
tính triết lý, phong cách thể hiện y hệt tính cách đời thường của
tác giả. Có thể nói vốn sống của ông là một kho tàng đồ sộ phong phú,
mang thai cả đời đến khi về hưu đẻ tới tấp một khối lượng tác phẩm
khổng lồ 10 tập tiểu thuyết, 4 tập truyện ngắn, 2 tập thơ riêng và
còn nhiều nhiều nữa. Có nhiều người cho rằng văn phong của ông chưa
“văn” lắm, cá nhân tôi cho rằng các tác phẩm của ông rất thành công lại
nhờ chính “văn phong không giống ai”,
đó chính là văn phong đặc trưng, văn phong Trần Chiểu. Người nào không
chìm trong đám đông là người đặc sắc tiêu biểu hay từ ngữ quen tai là
người tài ba. Các tác phẩm của ông rất giàu tính nhân văn, hiện thực
hóa, khái quát hóa từ mảnh đất nơi ông sinh ra và lớn lên, người
đương thời còn lạ chưa đọc kịp tư tưởng truyền tải bề bộn ngổn ngang
của tác giả.
(Khi bài phê bình “thơ
làng Quỳnh” tái bản trên các cơ quan truyền thông thì ông Trần Chiểu đã qua đời
trong một tai nạn thương tâm, hưởng thọ 79 tuổi).
Mơ ước của đời ông dở
dang, có người chỉ một nửa câu thơ, nửa câu trước còn mượn ca dao Nam Bộ "Tháp mười đẹp nhất bông sen, Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ" cũng bỗng thành nhà thơ chính hiệu (BĐG) còn ông Trần Chiểu bao bài thơ cắt ra từ máu thịt, đau đớn, gạn
đục trong cái mớ đời hỗn tạp ở cái thế giới quan đã đi qua cuộc đời ông vẫn mãi
dang dở... (bất công là lẽ thường với đời người và đời văn).
Trần
Bằng Giang góp 2 bài: Nhớ quê, Tình quê. “Nhớ con thuyền nhớ bến sông/nhớ ngày nước kém cống Quỳnh
đông vui/nhớ ngày xưa có một thời. Giăng câu, chắn đọn, lưới vùi bãi
xa...” Thơ của ông và lời ông tâm sự không khác gì nhau, thực ra nó
đã có dòng chảy trong tâm hồn ông, mở “van” là chảy, gọi thơ thành
thơ, gọi lời thành lời và đúng hơn cả với tâm trạng tác giả luôn
hướng về quê, luôn muốn về quê gặp bà con cho vơi nỗi nhớ... Ông là
người khao khát hơn cả phà Rừng nhanh biến thành cầu cho hai bờ xích
lại, cho nỗi nhớ “bậu” bờ môi tuổi già.
Lê
Thành Phẩm góp 2 bài: Giấc mơ hội làng và Nhớ đình làng xưa. “Ơi ngày xưa, có biết không/Bao giờ lại
được mặn nồng... ngày xưa”. Hay “Dù
nơi đâu miền ngược miền xuôi/Tôi vẫn nhớ về đình làng trìu mến/Khi
đường đời gặp gian nan nguy hiểm/Hình bóng quê nhà dẫn dắt tôi đi...”.
Hình ảnh Đình làng sống mãi trong ký ức của ông, nó như một thứ
tài sản vô giá theo dọc cuộc đời. Tâm sự của ông cũng là tâm sự của
thế hệ ông với quê hương.
Trần
Dần góp 6 bài. Về quê là bài thơ có ý, có tứ, ngôn ngữ biểu đạt
hàm xúc, lắng
đọng, truyền cảm “... Mẹ tôi xa quá
lâu rồi/như hai thế giới tìm người ở đâu/khi buồn tôi lại qua cầu/về
thăm chị gái, mẹ đâu hiện về”. Hay bài thơ “Cứ ví e với biển” đã làm ai cũng nuối tiếc tuổi yêu “... cứ ví em với biển/biển mặn mòi
yêu thương/như tình em vấn vương/vị mặn mòi của biển...” Đọc cả
bài thơ với 6 khổ thơ như quá ngắn trước khái quát đề cao mô típ
(cũ) tình người, nhân sinh quan của tác giả đáng trân trọng. Tư tưởng
thanh niên hiện sinh không thích cái thứ người già đề cao. Tôi cho rằng
đây là cây bút giàu chất thơ, một phát hiện trong tập thơ Làng Quỳnh.
Nguyễn
Hướng góp 8 bài thơ cho tập, tôi xin trích bài thơ “Yêu” của người sinh
năm 1937: “Rõ ràng vẫn nắng buổi
trưa/bỗng đâu lại hóa thành mưa buổi chiều/phải chẳng chỉ bởi chữ
yêu/cớ sao nắng lắm mưa nhiều hỡi em”. Bài thơ này ông viết tháng
8 năm 2010 cách đây 3 năm nghĩa là ông 71 tuổi, ông nói về yêu chắc
cánh thanh niên hiện nay còn chạy dài. Đọc tiếp khổ sau cũng là khổ
cuối càng phục tài lãng mạn của ông: “Anh
xin làm ngọn gió đêm/dỗ dành mái tóc mềm may bay/xin làm cốc nước
tràn đầy/long lanh mỗi sớm trong tay em cầm”. Làm thơ có tầm thì
viết ở thể loại nào, chủ đề gì cũng có “đẳng cấp” riêng, ông đã
có nhiều giải thơ. Tôi không đọc và không trích 7 bài khác của ông
trong tập, xin nhường lời cho bạn đọc nhận xét về thơ Nguyễn Hướng.
Nguyễn
Thanh Lộ góp tới 18 bài trong tập. Ông đã có tập “Mùa lá bay” NXBVH
2012 và nhiều giải thơ. Xin trích bài “Em là ni sư”. “Tên em tôi gọi... ngỡ ngàng/nam mô thí chủ nhầm chăng người
nào/em ơi nắng nhạt mưa rào/phải đâu ong bướm lặn vào lãng quên/chẳng
tại anh, chẳng tại em...” Đọc đến đây ta thấy thế giới giữa đời
và đạo được nối bằng một sợi giây tình cảm đẹp đẽ. Đọc khổ cuối “Nam mô nặng kiếp trầm luân/áo nâu
xuống tóc. Tu ngần ấy thôi”. Tác giả nói thứ ngôn ngữ e rất khiếm
nhã với giới tu hành “Tu ngần ấy thôi”. Cả một logic
nội hàm sâu lắng, chặt chẽ bỗng bị phá bởi một sự cẩu thả vô thức,
đọc kỹ thấy phàm tục quá. Ông là tác giả được nhận nhiều giải thưởng của Hội
văn học nghệ thuật Quảng Ninh, một cây bút trụ cột trong tập thơ “làng Quỳnh”,
nhưng giá trị tác phẩm của ông vẫn là cái “bóng” của chính ông, nó cũng là
những hạn chế chung của các tác giả của làng Quỳnh. Nói rộng ra, tầm của các
bài thơ vẫn còn “líu ríu” với luỹ tre
làng, số bài vượt lên ở tầm cao ngang ngửa với thiên hạ vẫn còn rất hiếm.
Phạm
Văn Báu góp 9 bài. Tôi rất thích bài Cỏ với mùa xuân. “Cuộc đời gặp nghìn lẻ/người ơi chớ
phân tâm/hãy hồn nhiên như cỏ/cỏ nhường cây cho rừng/cỏ cây chung trời
đất...” Cái thứ triết lý của PVB nó vào lòng người mềm mại tự
nhiên như cỏ cây, sương sớm. Thực tình thì mọi cái hữu hình luôn có
giới hạn giá trị, đâu có nhiều bằng cỏ? Cũng vẫn cái tư duy luận
lý ấy trong bài “Hương vị” có
phần nào đau đời và tâm lý “nâng cấp” ổn định hơn sau khi bài thơ ra
đời. “Dù đời bể cạn lâm ly/không qua
cay đắng chắc gì gặp nhau/trăm năm trăm cõi bể dâu/mà yêu thương lại
cần nhau thì thầm/thế rồi chiều gió cuốn đi/bão bùng đem đến tình
si muộn màng”. Tôi đã đọc thơ của PVB nhiều bài khác và đã hiểu
năng lực khá tiềm tàng trong sáng tác cũng như những trở ngại đời
thường với hành trình khát thơ của đời. Cuộc sống là thế luôn thiếu
để cái khát có cơ hội sống mãi có đúng không anh?
Nguyễn
Thế Nha một người biên soạn chính của tập thơ này, xin chúc mừng anh
vì sự cố gắng đóng góp những viên gạch hồng cho quê hương. Góp vào
tập có 10 bài, gọi tất là thơ, gọi tất là diễn ca, gọi là gì cũng
đúng, bởi nó là con đẻ của anh. Tôi thích bài “Ông cháu thả diều” đó là một bài thơ rất khá, sâu lắng “... bây giờ tròn sáu mươi năm/thả diều
cùng cháu thấy lòng xôn xao”. Cuộc đời không phải cái gì cũng
hiêủ ngay từ đầu, có những thứ sáu mươi năm trôi qua giờ mới thấu
hiểu, mới thấy trân trọng, cái cảm giác ấy tưởng như không có, giờ
lại có, hạnh phúc hơi muộn, nhưng còn hơn không giác ngộ được. NTN
muốn đi xa hơn với những ý tưởng đột phá, muốn xuất bản nhiều tập thơ,
nhiều tập truyện... nhưng oái oăm thay cuộc đời chặn lại bởi cái hữu
hình được coi là căn bản, cái vô hình vẫn chỉ một phần ba chưa được
nửa hành vi, hành động nên “chốt” hạ vẫn chỉ có thế mà thôi (ngổn
ngang, hy vọng).
Trong
tập thơ Làng Quỳnh có các tác giả Trần Duyệt, Trần Hoa Tím, Lương
Liễm, Phạm Tùng Bách, Trần Sứ, Trần Giới, Nguyễn Thị Thúy... mà
chưa có thời gian giới thiệu dịp này. Đọc ai cũng thấy máu huyết ứa
ra trên từng con chữ, khao khát yêu thương. Tiềm năng thơ ca, văn chương
của làng Quỳnh rất lớn, ban biên tập nuôi tham vọng thì cơ hội rất
nhiều. Một lần nữa, cảm ơn thi sĩ Dương Phượng Toại một người yêu và có
nhiều đóng góp vì Làng Quỳnh. Tập thơ Làng Quỳnh, đứa con đầu lòng
đầy khát vọng và chan chứa yêu thương chắc sẽ được nhiều sự quan tâm
của bạn bầu gần xa.
Nguồn: Báo Hạ Long
