CUỐI CÙNG TS KISSINGER CŨNG NHẬN
ÐÃ BÁN ÐỨNG VNCH CHO CSQT QUA HIỆP ÐỊNH
BA LÊ (27-1-1973)
MƯỜNG GIANG
Năm ngoái tiến sĩ Henry
Kissinger, nguyên phụ tá an ninh quốc gia tòa Bạch Cung thời Tổng Thống Nixon,
đã từ chối chức Chủ Tịch Uỷ Ban Ðiều Tra vụ khủng bố làm sụp đổ hai tòa cao ốc
thương mại tại Nữu Ước ngày 9-11-2001. Nguyên nhân có sự trục trặc trên vì
đương sự đã bị nhiều người tại nước Mỹ cũng như khắp thế giới, từng là nạn nhân
do Hoa Kỳ phản bội, chống đối kịch liệt. Thậm chí nhiều tổ chức nhân quyền còn
đòi lôi cổ tên đại bịp lừa đảo chính trị gốc Do Thái này ra trước Tòa Án Quốc Tế,
để đền tội đã làm cho nhiều chục triệu người Trung Ðông và Ðông Dương, tan nhà
mất nước. Cuối cùng năm nay (2010) Kissinger xác nhận là mình đã bán đứng VNCH
cho Cộng Sản Ðệ Tam Quốc Tế…
Theo các sử gia cận đại,
thì cái hệ lụy bi thảm mà Hoa Kỳ hứng chịu hôm nay khi phải đối đầu với Hồi
giáo cực đoan, Iraq, Iran, Trung Cộng, Bắc Hàn… cũng như sự phản bội trắng trợn
của các đồng minh trung thành lâu đời như Pháp, Ðức, Arab Saudi, Thổ nhỉ Kỳ,
Nam Hàn, Phi luật Tân, Nam Dương… phần lớn đều do chính sách sai lầm có chủ ý của
Kissinger khi nắm quyền, hoàn toàn chỉ nghĩ tới Do Thái và bọn siêu quyền lực
tư bản, thời nào cũng nắm quyền sinh sát nhân loại.
Trong cuộc chiến Ðông
Dương lần thứ hai 1955-1975, cộng sản quốc tế Hà Nội đã thu được nhiều thắng lợi
qua hai hiệp định Genève 1954 và Ba Lê 1973. Cả hai đều giả mạo do ngoại bang
dàn dựng trước cái gọi là tố chức Liên Hiệp Quốc, bất xứng vô thực. Ðây mới
chính là một trong những yếu tố then chốt, đã dẫn tới thảm kịch VN mà theo các
sử gia đều quy cho Kissinger, tội bán đứng VNCH cho cọng sản Bắc Việt bằng đủ mọi
cách dàn dựng lên một hiệp định hòa bình giả mạo, được ký ngày 27-1-1973 tại Ba
Lê. Tất cả vở hài kịch trên từ đầu tới cuối chỉ do Hoa Thịnh Ðốn và Hà Nội tự
soạn tự diễn mà không hề đếm xỉa tới dân tộc VN.
Sau năm 1975, tất cả âm
mưu đen tối trên lần lượt bị lột trần ra ánh sáng, qua các tác phẩm do chính những
nhân vật có liên quan kể lại trong ” Bí mật Dinh Ðộc Lập của tiến sĩ Nguyễn tiến
Hưng”, “ Những lá thư của Tổng Thống Nixon gởi Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu”, “
Tài liệu của Giáo Sư Stephen Young, chuyên gia tại Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ”, “ Hồ
sơ mật của Hoàng Ðức Nhã, cựu Tổng trưởng Dân Vận Chiêu Hồi kiêm Bí Thư của
TT.Thiệu” và mới nhất là tác phẩm “ No peace no honor của Sử gia Larry Berman
“.Tất cả đều đồng thanh gay gắt lên án và luận tội Nixon-Kissinger, đã lường gạt
cũng như phản bội dân chúng Hoa Kỳ và VNCH.
Tuy nhiên xác thực hơn
hết cũng vẫn là những lời tuyên bố huênh hoang sau năm 1975 của Lê Ðức Thọ,
Nguyễn thị Bình, Lưu văn Lợi, Nguyễn Anh Vũ… và chính miệng Kissinger qua những
hồi ký đã xuất bản như Năm tháng ở Bạch Cung (1979), Niên đại sóng gió (1982)
thế nhưng mai mỉa nhất vẫn là Bí Lục Kissinger (The Kissinger Transcripts),
trong đó ngoài Ðông Dương bị bán đứng, cả Liên Xô cũng là nạn nhân bi thảm
trong canh bạc thời chiến tranh lạnh giữa Mỹ-Trung-Nga.
Ngày nay qua sự sụp đổ
của chủ nghĩa cọng sản, mặt thật của Bắc Việt đang đô hộ VN và cái liêm sỉ của
đống núi sách vở trong và ngoài nước viết về cuộc chiến VN, phần lớn nhắm mắt
theo tài liệu tuyên truyền của Việt Cộng có sẵn khắp các thư viện quốc tế. Bao
nhiêu đó cũng đủ cho ta thẩm định về tính chất phiến diện thiếu công bằng của một
số trí thức có bằng cấp cao nhưng cạn kiệt hồn nước và tình người.
Cũng từ đó để chúng ta,
những người dân đen đến lúc phải tỉnh mộng, chấm dứt việc giao phó trách nhiệm
đối với non nước và sinh mệnh mình cho bất cứ ai không xứng đáng và tín nhiệm,
dù họ đang nhân danh bất cứ một thứ gì. Càng nhớ càng thêm thê thảm tủi nhục
cho chính bản thân mình, một dân tộc nhược tiểu, luôn bị bán đứng và dầy vò
trong suốt thế kỷ, qua hai cái vỏ quốc gia rồi cọng sản. Bao chuc năm rồi nhưng
không bao giờ quên được lời tuyên bố chát chua máu lệ của ông Trần Kim Phượng,
đại sứ VNCH tại Hoa Thịnh Ðốn ngay lúc xe tăng Bắc Việt tiến vào Dinh Ðộc Lập
trưa 30-4-1975:” Làm đồng minh với Mỹ chỉ có chết, tốt hơn nên làm bạn với cọng
sản , ít ra còn được che chở và giúp đỡ “.Ðây là lời cảnh tỉnh tha thiết nhất
cho những ai còn muốn nhờ ngoại bang để quang phục đất nước.
1 - NGƯỜI MỸ LÀM GÌ TẠI
VNCH?
Tuy chiến tranh đã kết
thúc từ lâu và cọng sản Bắc Việt ngay từ ngày 1-5-1975 qua Lê Duẩn, Lê Ðức Thọ,
Phạm Hùng... đã công khai xác nhận XÂM LƯỢC MIỀN NAM, còn Mặt Trận Giải Phóng
chỉ là một phần Ðảng Bộ Trung Ương nối dài, một thứ công cụ bịp để che mặt và
đánh lừa bọn trí thức ngây thơ da vàng da trắng mà thôi.
Thế nhưng đến nay vẩn
còn nhiều người chưa chịu trả lại công lý cho người VN mỗi khi đề cập hay nhắc
tới cuộc chiến đó; Thật ra đây cũng chỉ là một cách chạy tội của những người
trước kia tay lở nhúng vào tội ác, hoặc cố ý hay vô tình khi đứng về phía cọng
sản, thân thiện, giúp đỡ chúng một cách mù quáng, không cần biết tới lẽ phải và
lương tâm. Do trên họ cứ tự mình tùy tiện áp đặt cho cuộc chiến đó, nhiều cái
tên nghe qua thật khôi hài, cũng may đến nay không còn được mấy ai chấp nhận.
Tóm lại, dù có gọi là cuộc chiến ủy nhiệm, nội chiến hay là chiến tranh giải
phóng dân tộc hoặc gì gì chăng nửa, thì đó cũng là một cuộc chiến xâm lược, do
cọng sản quốc tế chủ động, nhằm nhuộm đỏ Ðông Dường và Ðông Nam Á. Cọng sản Hà
Nội hay VC miền nam chỉ là kẻ thừa hành sứ mạng quốc tế trên, đã khiến dân
chúng VNCH trở thành nạn nhân, phải đem máu xương ra chống lại để sống còn.
Từ đầu thế kỷ XX tới
nay, Hoa Kỳ vẫn là một quốc gia vô địch, chính họ đã giúp đồng minh thắng phe
trục qua hai cuộc thế chiến; Trong chiến tranh lạnh giữa khối tự do và cọng sản,
Hoa Kỳ đã chiến thắng Liên Xô vẽ vang, giựt sập bức tường Bá Linh, giải thề Xô
Viết, giải phóng Ðông Âu và nhiều quốc gia cọng sản khác trong đó có Ðông Ðức,
Nga La Tư vĩnh viễn thoát khỏi gông cùm đỏ trong mấy thập niên qua. Mới đây
quân Mỹ như sấm sét, trong vòng không đầy một tháng, bình định xong A Phú Hãn
và Iraq là hai vùng đất chết được coi như bất khả xâm phạm của thế giới Ả Rập.
Nhờ những chiến công trời
biển này, ít ra hiện tại cũng còn làm Trung Cộng vỡ mật khi muốn trở thành trùm
thế giới, bá chủ Á Châu và vua biển Thái Bình Dương. Nhưng tại VNCH thuở đó,
Hoa Kỳ lại bị sa lầy dù thực tế tự chạy khi đã đạt được ba mục đích chiến lược
quốc sách: Tạo được sự mâu thuân chia rẽ giữa Liên Xô-Trung Cộng, thành công
trên chiến trường VN về sự thử thách vũ khí và quân đội với khối cọng sản quốc
tế qua bộ đôi Bắc việt và trên hết là ngăn chặn được Trung Công không cho tràn
xuống Ðông Nam Á ít nhất là lúc đó. Tóm lại người Mỹ tới VN không phải để chiến
đấu thật sự như họ đã làm tại hai cuộc thế chiến hay mới đây ở A Phú Hãn và
Iraq, mà đến để nướng quân dụ địch. Tất cả những cái được gọi là Rules of
Engagement hay là luật chiến đấu dành cho quân đội Hoa Kỳ tại VN và Nam Hàn.
Tài liệu này được giải mật một phần từ năm 1985 bởi Congressional record, nhờ
đó ta mới biết được lý do tại sao quân đội Hoa Kỳ, Ðồng Minh và QLVNCH bị Hoa
Thịnh Ðốn trói chặt tay khi đang chiến đấu. Bởi vậy cứ không tập, đổ bom liên tục
xuống núi, xuống biển nên Hà Nội, Hải Phòng đâu có hề hấn gì củng như không thấy
có bất cứ một cán bộ nào kể cả cán thấp tại xã huyện bị thương vong.
Ðây là một trò chơi mèo
bắt chuột mà rõ ràng nhất là đợt Mỹ oanh tạc Bắc Việt lần cuối cùng, bằng B52
liên tiếp, khủng khiếp suốt 12 ngày đêm và chỉ cần thêm MỘT NGÀY là toàn bộ
chóp bu Hà Nội trốn dưới hầm thép ra đầu hàng, giúp dân chúng VN ngày nay thoát
được ách nô lệ cộng sản. Thế nhưng, Hoa Kỳ đã ngưng và Bắc Việt đã ngoan ngoãn
hối hả ngồi vào bàn nghị sự… Rồi những ngày cuối cùng của tháng tư 1975 miền Nam
sắp mất, trong lúc Hoa Kỳ với một lực lượng hải quân hùng hậu có đầy máy bay và
bom đạn, kể luôn kho bom nguyên tử tới mấy trăm ngàn trái, nếu muốn dù có Trung
Cộng và Liên Xô can thiệp, vẫn thừa sức đánh tan bộ đội Bắc Việt trong chớp
nhoáng để cứu QLVNCH. Mặt trận Xuân Lộc tháng 4-1975 là một thí dụ điển hình,
chỉ cần thêm vài chục trái bom tiểu nguyên tử, tình hình chiến sự đã thay đổi
nhưng Mỹ cho bom mà không viện trợ ngòi nổ, ba trái bỏ tại ngã ba Dầu Giây chỉ
để mua thêm thời gian giúp người Mỹ chạy được an toàn thế thôi.
Tóm lại, họ không bao
giờ làm vậy và còn được lệnh di chuyển hết các mẫu hạm khỏi bờ Ðông Hải; Ðó là
chiến thuật để thua vừa nuôi dưỡng chiến tranh sắp tới nên không thể bắt Hà Nội
tan rã. Thế giới ghét cái trò lừa bịp của Hoa Kỳ, nên mặc dù đã nhìn rõ sự láo
dóc tàn khốc của Việt cộng nhưng cứ giả vờ nhắm mắt hoan hô cổ võ trò hề trên,
làm hại cho một số người VN nhẹ dạ tưởng thiệt, lại cứ theo giặc, tiếp tay hãm
hại đồng bào mình trong lúc khốn cùng qua màn cổ võ ‘nối vòng tay lớn, hòa hợp
hòa giải’.
Cũng vì vậy nên dù chiến
tranh đã chấm dứt từ xa lắc nhưng VC chứng nào tật ấy, một mình một chợ, độc
quyền thao túng lịch sử, dành làm chủ đất nước, bịa đặt những huyền thoại vu vơ
để làm dao động các thế hệ mới lớn, mục đích chạy trốn tội ác thiên cổ đã gây
ra trong mấy chục năm máu lệ hận trường. Riêng Hoa Kỳ trong màn kịch giả bộ
thua đau, đã không ngớt biện minh để tìm cách thoát ra cái hội chứng Viet nam
syndrom, trong đó chính họ là kẻ phản bội và thủ phạm tấn tuồng trên là
Nixon-Kissinger. Một điều tàn nhẫn khác của người Mỹ, đó là sự vu cáo trắng trợn,
đổ tội cho đồng minh hèn nhát không chịu chiến đấu nên phải mất nước.Thật sự
trong giờ 25, nếu không có sự chiến đấu can trường của QLVNCH trên khắp các chiến
địa, liệu một số người Mỹ, kể luôn ông Ðại sứ có còn mạng thoát được Sài Gòn
như vụ Ba Tư bắt con tin Mỹ năm 1983.
Ngày nay nhờ tài liệu mật
từ văn khố của Liên Xô cũ cũng như tại thư viện chiến tranh Hoa Kỳ ở Texas gọi
tắt là ISAW, đã chấm dứt các huyền thoại dỏm của VC trong mấy chục năm qua, tốn
công dàn dựng bóp méo và đưa ra ánh sáng rằng những xáo trộn chính trị tại
VNCH, dù do ai cũng chỉ là cớ để Bắc Việt cưởng chiếm miền nam.
Ý đồ trên, theo J.Race
trong The lost revolution, đã manh nha từ năm 1958 khi Hà Nội ra lệnh khui lại
các hầm vũ khí được chôn giấu tại miền nam trước khi tập kết, để trang bị cho
cán binh cơ sở nằm vùng. Cũng trong năm này, Lê Duẩn theo lệnh Hồ đã lén lút
vào Nam lượng giá tình hình và trở về bắc họp Trung ương đảng lần thứ 15, nghị
quyết lập đảng bộ miền nam, tức là VC hay mặt trận giải phóng, tấn công VNCH bằng
vũ trang. Chiến tranh được phát động chính thức bằng hai cuộc nổi loạn gọi là đồng
khởi, nhưng đã bị dập tắt ngay tại Trà Bồng (Quảng Ngãi) ngày 28-8-1959 và BếÔn
Tre ngày 17-1-1960. Chính Thủ Tướng Nga Nikita Khrushchev đã phất ngọn cờ tiến
quân ngày 6-1-1961 để mở màn cuộc chiến VN sau khi vở tuồng mặt trận trình diễn
ra mắt tại một khu rừng già kế biên giới Việt Miên trong liên ranh hai tỉnh Hậu
Nghĩa-Tây Ninh cuối tháng 12-1960 với nhân sự nòng cốt gồm hơn 25.000 cán binh
từ bắc hồi kết. Tháng 5-1962, Bộ Trưởng quốc phòng Hoa Kỳ thời Tông thống
J.Kennedy là McNamara thăm viếng VNCH, cũng để mở màn cái thảm kịch chiến tranh
phải thua, khiến hơn 60.000 quân nhân các cấp Hoa Kỳ, UỊc,Tân Tây Lan, Nam
Hàn,Phi, Thái và mấy triệu người VN cả hai miền nam bắc phải chết oan khiên
trong bom đạn tàn bạo của một cuộc chiến bẩn thỉu có một không hai trong dòng sử
nhân loại.
Ngày 1-11-1963 Hoa Kỳ đạo
diễn biến cố lật đổ nhà Ngô, một mặt tạo sự vô chính phủ tại miền nam trong ba
năm xáo trộn 1963-1967, vừa có cớ đem quân vào giúp đánh VC ổn định chính trị
nhưng trên hết là thực hiện cái chiến lược, hy sinh con chốt VNCH để bắt nhốt
con cọp ngủ Trung Cộng, rảnh tay tiêu diệt Liên Xô nhưng thả Hà Nội để lại tiếp
tục làm con chốt thí mạng với Tàu đỏ khi cần. Chiến tranh cứ thế leo thang, tại
miền nam Mỹ thêm quân, giội bom oanh tạc, thì miền bắc càng nhận được thêm nhiều
quân viện gạo vải từ khối cọng sản quốc tế, cũng như sự hiện diện của mấy trăm
ngàn đồng chí Trung Cộng, Bắc Hàn, Cu Ba, Ðông Ðức… do Hồ lãnh tụ mời tới tham
chiến, đóng đầy từ vỹ tuyến 20 ở Thanh Hóa cho tới biên giới Việt Hoa.
Ngày 4-9-1967 mở đầu nền
đệ Nhị Cộng hòa cho tới ngày tàn cuộc 30-4-1975; Cũng từ đó QLVNCH trên khắp
chiến trường trong nước cũng như tại Kampuchia và Hạ Lào, đã chứng tỏ cho thế
giới là một đạo quân thiện chiến và có kỷ cương nhất vùng Ðông Nam Á, qua các
chiến thắng lừng lẫy trong Tết Mậu Thân 1968, vượt biên đánh thẳng vào căn cứ địa
của R tại Kampuchia năm 1970, Hạ Lào năm 1971, mùa hè đỏ lửa 1972, Hoàng Sa
tháng 1-1974, tạo nên một niềm tin tất thắng trong lòng quân nhân các cấp, nhất
là những sĩ quan chỉ huy trẻ tuổi trung cấp và tuyệt đai quân sĩ thanh niên nam
nữ yêu nước dưới quyền.
Thế nhưng giữa lúc chiến
thắng gần kề thì cũng là lúc Kissinger công khai thái độ bán đứng đồng minh qua
cái hiệp định quái đản ngày 27-1-1973, Thì ra tất cả đều là xảo thuật, đóng kịch
từ cuộc họp thượng đỉnh Midway ngày 8-6-1969 giữa Nixon-Nguyễn văn Thiệu với
cam kết bảo vệ và quân viện cho VNCH chỉ là lời hứa cuội trên văn bản. Thật sự
Kissinger đã đi đêm với cộng sản Hà Nội từ khuya, để rút quân lấy tù binh về nước
an toàn.
Ðể đạt được trò bịp
trên, Hoa Kỳ dùng thủ đoạn chèn ép chính phủ VNCH bằng cái thòng lọng VIỆN TRỢ,
chụp mũ làm mất chính nghĩa quốc gia của người miền nam, qua truyền thông truyền
hình và hăm dọa ám sát thủ tiêu lãnh đạo nếu không chịu ký nhận cái hiệp định
phi lý vô nhân đạo, mà VC đã đem liệng ngay vào thùng rác sau đó.
Cái hài hước của lịch sử
nào ai cũng biết được, là mặt thật, nhưng vẫn phải cắn răng nuốt lệ thi hành;
Và cũng kể từ đó, người Mỹ hân hoan rút hết về nước, trước sự thắng cử vinh
quang thêm một nhiệm kỳ của tổng thống Nixon; Bộ đội Bắc Việt thế chân Hoa Kỳ,
công khai ở lại lãnh thổ độc lập tự do của người miền Nam theo tinh thần hiệp định
hai nước, hai chính thể ký năm 1954. Cũng qua sự toa rập ký kết từ trước, quốc
hội Hoa Kỳ chấm dứt viện trợ quân sự và kinh tế cho VNCH, đưa đến sự sụp đổ
toàn diện của một quốc gia chỉ vì tin cậy vào sự giúp đỡ của đồng minh vào lúc
12 giờ trưa ngày 30-4-1975.
Trong suốt bao chục năm
qua, cọng sản đã ký bao nhiêu hiệp định ngày 6-3 và 14-9-1946, 20-7-1954 rồi
27-1-1973 nhưng chẳng bao giờ thực hiện. Bởi vậy đừng tin những gì cọng sản nói
mà hãy nhìn những gì chúng làm. Chí lý thay lời nhận định của cố tổng thống
Nguyễn văn Thiệu, vậy mà tới nay còn không ít người không chịu tin vào sự thật.
2 - KISSINGER VÀ HIỆP ƯỚC
HÒA BÌNH GIẢ MẠO:
Cái khôi hài cười ra nước
mắt của người Mỹ là ngay trong lúc một mặt đổ quân ào ạt vào nam VN năm 1965,
cũng đồng thời bí mật đi đêm với Bắc Việt gọi là mưu tìm một giải pháp hòa
bình, chính Pháp và Tòa Thánh La Mã khởi động đầu tiên dàn xếp để hai phiá ngồi
vào bàn hội nghi nói chuyện ngưng bắn theo kế hoạch Mayflower nhưng bất thành.
Ngày 17-6-1965 Anh và
Liên Xô nhập cuộc, mở hội nghị 4 nước Anh-Ghana-Nigeria-Tobago với sự ủng hộ
công khai của hai nghị sĩ dân chủ là Mike Mansfield và Fullbright, muốn Mỹ
ngưng oanh tạc Hà Nội và ngược lại Bắc Việt ngừng chuyển bộ đội vào nam nhưng bị
cọng sản bác bỏ vì lập trường đối nghịch của hai đàn anh Nga-Tàu, Tháng 7/1965
tổng thư ký LHQ là U Thant muốn mở lại hội nghị Geneve 1954. Tháng 10/1965 ngoại
trưởng Ý là Amintore Fanfani và Giáo Hoàng Paul VI cũng nhập cuộc, bằng cách
liên lạc thẳng với Hà Nội, Mặt Trận GPMN và Tổng Thống Johnson nhưng cũng bất
thành vì Hồ đòi công nhận Ma mặt trân là một chánh phủ giống như VNCH.
Tóm lại những kế hoạch
kể trên đều khởi động nhịp nhàng theo các phong trào phản chiến tại nội địa Mỹ
do Luther King, Hoffman, Larson xách động, biến các trường đại học Mỹ thành căn
cứ du kích Bắc Việt ngay trên lãnh thổ Hoa Kỳ. Chiến tranh dữ dội khắp VNCH nhịp
nhàng với các biến động chính trị tại Huế-Sài Gòn. Hoa Kỳ tiếp tục oanh tạc miền
bắc nhưng Hồ vẫn không nhượng bộ vì đang leo dây giữa Nga - Tàu, nên chỉ biết ậm
ờ trước các đề nghị hòa bình. Tại Mỹ, ngày 20-2-1966, Robert F.Kennedy công
khai đòi cho MT/GPMN tham gia chính phủ nhưng bị chống đối kịch liệt.
U Thant và De Gaulle là
hai nhân vật hung hăng nhất trong việc kêu gào phải hòa bình tức khắc tại VN bằng
cách ngưng oanh tạc miền bắc, Mỹ rút quân và để MT/GPMN tham chính. Sở dĩ cả
hai làm như vậy vì U Thant tuy là tổng thư ký LHQ nhưng lại thân cộng ra mặt,
còn De Gaulle với dụng tâm đạo đức giả, thù Mỹ đã phỏng tay trên Ðông Dương, nên
nhỏ mọn trả thù vặt. Rốt cục cả thế giới lẫn Vatican đều trúng kế Hồ Chí Minh,
càng lúc, càng chia rẽ và phân hóa trầm trọng.
Năm 1967 phong trào phản
chiến lên cao tại Hoa Kỳ làm phân hoá đảng dân chủ vì là mùa bầu cử, nên tổng
thống Johnson tuyên bố trong cuộc hội nghi với TT Nguyễn văn Thiệu tại Guam, là
sẽ thương thuyết thẳng với Bắc Việt. Tất cả chỉ là màn hỏa mù ngoại giao vì Mỹ
và Hà Nội đã đi đêm từ cuối năm 1966, do sự dàn xếp của Thụy Ðiển nhưng phải đợi
tới ngày 31/3/1968 khi Johnson tuyên bố không tái tranh cử và bộ đội của Bắc Việt
cũng như VC bị tan nát tại miền nam trong trận Tết Mậu Thân, cọng sản mới chính
thức ngồi lại với Mỹ. Rồi Nixon thắng cử tống thống, Kissinger được giao trách
nhiệm đi đêm với Lê Ðức Thọ, tự quyết định số phận của VNCH, mà không cần đếm xỉa
gì tới chủ quyền của miền nam lúc đó.
Theo giáo sư tiến sĩ
Stephen Young, từng phục vụ nhiều năm trong bộ ngoại giao Hoa Kỳ thì Kissinger,
trưởng phái đoàn thương thuyết Mỹ đã bán đứng VNCH cho Bắc Việt khi chấp thuận
cho Hà Nội được lưu giữ đạo quân xâm lăng ở miên nam VN. Hậu quả tạo ưu thế
quân sự cho địch cưỡng chiếm VNCH khi Hoa Kỳ rút toàn bộ quân lực về nước và cắt
giảm quân viện năm 1973 rồi cắt đứt năm 1975; Tổng thống Nixon ngay khi làm TT
năm 1969 đã tuyên bố sẽ chấm dứt chiến tranh, đem hết quân Mỹ về bằng một kế hoạch
bí mật.
Vấn đề chính là Nam VN
chẳng hề biết tới kế hoạch đó là gì và nói là VN hóa chiến tranh nhưng QLVNCH tới
đầu năm 1972 mới được cải tiến trang bị, trong lúc bộ đội miền bắc đã sử dụng
những vũ khí cá nhân và cộng đồng tối tân của khối cộng từ khi Mỹ còn hiện diện.
Năm 1972 Nixon đả đạt được những thỏa uớc lịch sử với Nga lẫn Trung Cộng; Chính
điểm này để Nixon thắng Mc.Govern làm TT nhiệm kỳ 2; Tuy nhiên việc oanh kích
Hà Nội trong 12 ngày liên tiếp và thả mìn phong tỏa Hải Phòng, suýt làm Bắc Việt
đầu hàng vô điều kiện, nếu không bị đảng dân chủ và phe phản chiến chống đối dữ
dội.
Giữa lúc TT Nixon trong
tình thế khó xử, thì Kissinger đưa sáng kiến phản bội VNCH để đổi lấy sự ủng hộ
của quốc hội Mỹ, trong việc làm thăng bằng cán cân chiến tranh lạnh, nói thẳng
là giúp Do Thái đương đầu với khối Ả Rập. Do nhận thức sai lầm trên, đã khiến
Kissinger thành kẻ chủ bại, hèn nhát, bất nhân đẩy VN vào định mệnh oan nghiệt.
Thực tế còn gian ác hơn ta nghĩ, vì Kissinger chẳng những muốn Hoa Kỳ rút khỏi
VN mà còn làm cho dân chúng Mỹ không còn nhớ tới cuộc chiến đó trong tiềm thức.
Hậu quả lưu manh này khiến cho các quân nhân Hoa Kỳ tham chiến tại VN trở về bị
đối xử tàn tệ, tẻ nhạt cho tới mấy năm sau mới được hồi phục lại danh dự; Trong
thâm tâm của Kissinger, đưa quân đội Mỹ về chưa đủ, mà phải làm sao thọc gậy quốc
hội cắt đứt mọi nguồn viện trợ cần thiết, thì mới chấm dứt được chế độ miền
nam. Do trên ông ta tự đẻ ra sáng kiến riêng, chủ đích làm hỏng chương trình VN
hoá của Nixon. Theo tài liệu của đại sứ Bunker, thì bí mật lớn nhất của
Kissiger là sự xuống thang chiến tranh; Ðây là sáng kiến tàn nhẫn nhất vì để đổi
một thắng lợi ngoại giao cho Mỹ và VNCH, Kissinger cho lại Bắc Việt MỘT CHIẾN
THẮNG QUÂN SỰ, tức là Y đã tiết lộ bí mật quốc phòng cho địch; Nhưng sự kiện
này không bao giờ Kissinger dám nhận và chính trong hồi ký của TT Nixon đã viết
là chẳng bao giờ ông cho phép làm chuyện đó khi thương thuyết với Hà Nội.
Tóm lại để kết thúc chiến
tranh VN theo ý mình, Kissinger không bao giờ trình bày sự thật khi thương thuyết
với Hà Nội cho TT.Nixon biết. Từ ngày 13-4-1971, Kissinger đã manh nha trò phản
bội và lộng quyền, khi tự sử dụng đường dây nóng đặc biệt không qua Bộ Ngoại
Giao và Tổng Thống Mỹ, để ra lệnh cho Ðại Sứ Bunker và Bắc Việt. Theo các tài
liệu lịch sử đã giải mật, những lộ đồ đề nghị hòa bình VN của các giới chức Mỹ
từ tổng thống Nixon tới đại sứ Bunker hoàn toàn trái ngược với ý riêng của
Kissinger.
Theo bản dự thảo chiến
lược chính thống, thì sự ký kết hòa bình chỉ xảy ra sau khi QLVNCH đạt được chiến
thắng tại Hạ Lào qua cuộc hành quân Lam Sơn 719, phá vỡ toàn bộ các căn cứ hậu
cần của Bắc Việt tại đây nhằm cắt đứt đường tiếp vận cho bộ đội miền bắc qua đường
mòn Hồ chí Minh. Về rút quân thì bắt đầu năm 1971-1972, bộ binh về trước khi đã
chứng thật rằng QLVNCH được VN hoá chiến tranh, đủ mạnh để thay thế quân lực
Hoa Kỳ đương đầu với Bắc Việt. Riêng Không quân và Hải quân vẫn duy trì cho tới
khi thấy Hà Nội thật sự tôn trọng hòa bình của Nam VN; Một điều quan trọng nhất
mà đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn là Bunker, mong muốn Hoa Thịnh Ðốn phải chứng tỏ
vai trò hợp hiên của CHÍNH PHỦ VNCH tại bàn hội nghị và cái sự Hoa Kỳ ngồi nói
chuyện với Hà Nội đã là một nhượng bộ, vì rõ ràng lúc đó Bắc Việt đang thảm bại
quân sự trên khắp các chiến trường, chiến dịch ở miền nam. Một sự kiện khác
cũng không kém phần quan trọng tại Hoa Kỳ, là mặc dù bị đảng dân chủ đánh phá kịch
liệt, đòi rút quân về tức khắc để đổi tù binh nhưng TT Nixon lúc đó, vẫn cương
quyết không tiết lộ lộ trình triệt thoái và giữ nguyên ý định không giải kết với
VNCH vì quyền lợi Mỹ.
Theo các sử gia, nếu
Kissinger thật sự là một nhà thương thuyết giỏi và có lương tâm, ông ta đã vượt
qua được những sóng gío trùng trùng lúc đó, mang lại vinh dự cho nước Mỹ và
công lý cho VNCH. Lịch sử đã chúng nhận điều này chỉ mới đây trong việc Tổng Thống
G.W.Bush trước khi tiến quân đánh Iraq; Nhưng Kissiger chỉ là một học giả chứ
không phải là một nhà ngoại giao, một người Do Thái thuần tuý nên không hề biết
tới quyền lợi và danh dự của Hoa Kỳ. Trước tiên, về việc cho phép BỘ ÐỘI BẮC VIỆT
ở lại miền nam, Kampuchia, Lào được coi như một hành động ngu xuẩn nhất của
Kiss
Thế nhưng Kissinger nơi
trang 1488, y đã tự sửa lại là: “ người VN và các dân tộc khác ở Ðông Dương, sẽ
tự thảo luận để tất cả quân đội ngoại nhập rút ra khỏi Ðông Dương “.Như vậy muốn
Hoa Kỳ ngưng oanh kích rút quân, mà không có một đòi hỏi gì cho đối phương, thậm
chí còn cho chúng ở lại để tiếp tục làm giặc, thì thương thuyết để làm gì, cho
nên sau này Hà Nội và thế giới khinh khi, cười chê Hoa Kỳ là vậy. Ngoài ra chẳng
bao giờ Kissinger coi VNCH là một quốc gia độc lập, có chủ quyền, nên hắn đã có
cái nhìn coi Hà Nội mới là đại diện để thương thuyết với Mỹ. Ðây là một sự phản
bội trắng trợn của lời cam kết từ các chính quyền Hoa Kỳ như TT.Kennedy,
Johnson,Nixon, luôn tuyên bố tôn trọng nền độc lập của quốc gia đồng minh.
Tóm lại với luận điệu lừng
khừng, chủ bại, đầu óc lắt léo tàng tàng, kissinger đi phó hội trong một tư thế
hèn yếu, rẻ mạt, nên chỉ còn bán đứng VNCH mới mong lấy lại tù binh về. Ngày
25-5-1971, để tránh bị kiện tụng vào phút chót, Kissinger đã điện thoại gạt
Bunker là chương trình nghị sự sẽ theo đúng bản dự thảo của TT.Nixon và tòa đại
sứ Mỹ-Sài Gòn.
Cũng do lòng tin tưởng
trên, nên ngày 3-6-1971, Ðại sứ Bunker đã tường trình với Tổng Thống Nguyễn văn
Thiệu có Kissiger hiện diện, kết quả thương thuyết theo bản dự thảo của
TT.Nixon và Toà đại sứ. Trong khi trình bày, Bunker xác quyết là BỘ ÐỘI BẮC VIỆT
cùng rút về Bắc khi quân đội Ðồng Minh và Hoa Kỳ triệt thoái; Việc tréo cẳng ngổng
này cho thấy, TT Thiệu và Chính phủ VNCH hoàn toàn không được Hoa Kỳ cũng như
Kissiger hỏi han hay cho biết một chút gì về vận mệnh tương lai của xứ sở mình.
Trước sự kiện trên, Kissimger chẵng những không đính chính mà còn lợi dụng sự
không biết gì, để ép TT Thiệu không được tiếp tục đòi hỏi hắn, khi việc BỘ ÐỘI
MIỀN BẮC đã được giải quyết.
Tháng 10/1972 giai đoạn
cuối cùng trong bàn hội nghị, Kissinger thay vì cố gắng đạt được những ưu thế
cho Hoa Kỳ và đồng minh Nam VN, Kissinger lại tấn công tới tấp TT Nguyễn văn
Thiệu và gọi đó là lý do chính trở ngại cho cuộc hoà đàm. Ngày nay dựa vào những
tài liệu mật và ngay chính hồi ký của Kissiger, chúng ta mới thấu hiểu sự dối
trá và bất lương của y đối với VNCH. Ðó là sự hiểu biết quá kém cỏi về lịch sử
VN dù hắn ta luôn tự hào về cái trường đại học luật khoa danh tiếng Havard nay
chỉ còn là cái mốt thời thượng. Hèn nhát trước phong trào phản chiến do cọng sản
quốc tế dàn dựng, Kissinger đã đánh mất sự thông minh của một nhà ngoại giao,
qua mặt dân chúng và chính quyền Hoa Kỳ, phản bội đồng minh đang chiến đấu dũng
liệt trước làn sóng đỏ.
Ngày 1-8-1972, trong cuộc
họp mật, Hà Nội bảo với Kissinger là ngoài việc BỘ ÐỘi Ở LẠI, TT Thiệu phải từ
chức để thay thế bằng chính phủ liên hiệp; Từ tháng 8-1972, sự chống đối Mỹ từ
chính phủ VNCH đã lên tới cao điểm như không cần đếm xỉa tới thời hạn mà
Kissinger ấn định, TT Thiệu không tiếp chuyện với TT.Nixon gọi từ Honolulu cũng
như tuyên bố là sẽ không bao giờ từ chức, Chính phủ liên hiệp không bao giờ có.
Ngày 20-9-1972 sau chuyến
thanh sát tại Quảng Trị điêu tàn đổ nát, vừa được QLVNCH chiếm lại, TT Thiệu về
Sài Gòn tuyên bố “ vận mệnh của DÂN TỘC VN phải do đồng bào VN quyết định” và
ông đả tố cáo Kissinger chỉ biết tự mình quyết định tất cả mà không coi VNCH ra
gì.
Ngày 19-10-1972,
Kissinger, Bunker họp với TT Thiệu, Phó Tổng Thống Hương và Hội Ðồng An Ninh Quốc
Gia. Theo các tài liệu ghi nhận, cuộc họp đầy căng thẳng và thái độ cuả TT.Thiệu
khinh bỉ Kissinger tại cuộc họp mà ai cũng thấy rõ khi tuyên bố hắn ta chỉ là một
người trung gian không hơn không kém, quyền quyết định hòa hay chiến là của Sài
Gòn-Hà Nội, chứ không phải Hoa Kỳ; Phiên họp chấm dứt nhưng phút chót TT.Thiệu
không biết vì một lý do nào đó lại ký nhận vào bản hiệp định.
Ngày 26-11-1972, Bunker
chuyển một lá thơ của Nixon, cho biết nếu VNCH cưỡng lại Hoa Kỳ thì VIỆN TRỢ sẽ
bị cúp ngay và tánh mạng tổng thống Thiệu nếu muốn giữ, phải KÝ KẾT. Ðể tấn tuồng
kết thúc trọn vẹn, bất ngờ ngày 18-12-1972, Nixon ra lệnh oanh tạc THẬT Hà Nội-Hải
Phòng và các căn cứ quân sự tại Bắc Việt một cách sấm sét dã man, bất chấp Dân
Chủ và phản chiến kêu gào la ó. Ðến lúc này, thì TT Thiệu không tin cũng phải tin
là Hoa Kỳ qua lời hứa của Nixon trong mấy chục bức thơ riêng, sẽ dội B52 và can
thiệp ngay bằng quân sự nếu Hà Nội phản thùng, tấn công VNCH. Ngày 30-4-1975,
Miền Nam bị bức tử vì Kissinger, một tên trí thức xuẩn động ngây thơ, có đầu óc
thực dân kiêu căng thời Trung cổ. Hắn vì muốn thoả mãn nhu cầu cho bọn siêu quyền
lực mà phần lớn gốc Do Thái đang thao túng nước Mỹ và thế giới, cho lũ phản chiến
đa số bị bệnh tâm thần vì đồng tình luyến ái, hút sách, ảo vọng, nên đã hại
không biết bao nhiêu người đã chết, tan nhà, mất nước trong suốt 34 năm qua, tới
nay càng thêm đau khổ tận tuyệt trong cảnh nước mất nhà tan, dân tộc bị Hán hoá
tuyệt chủng.
Cuộc chiến Ðông Dương lần thứ hai 1955-1975
kết thúc là thế đó, hơn 60.000 quân nhân Mỹ và Ðồng Minh bỏ mạng, nhiều người
khác bị thương, một trăm năm mươi tỷ mỹ kim tiền thuế của dân chúng Mỹ, đổi lấy
sự sụp đổ của VNCH bằng một hiệp định chẳng danh dự, do chính Kissinger đạt được./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét