7/1/15

Nhà văn Nam Cao - Nhà văn Nam Cao

Về quê nhà văn Nam Cao tản mạn sự đời…
Bút ký của Trần Phương
Nhà văn, liệt sỹ Nam Cao
I. Nhà văn Nam Cao trong ký ức
Tôi yêu dòng văn học hiện thực phê phán nước nhà, tiêu biểu là nhà văn Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng từ thời còn học dưới mái trường phổ thông. Những tác phẩm văn học của các bậc tiền bối, phản ảnh bức tranh xã hội phong kiến thối nát, đã ngấm vào máu nhiều thế hệ thanh thiếu niên sinh sau cách mạng tháng Tám năm 1945. Chính nó đã trở thành những giấc mơ “thiên hồng” về một xã hội mới phát triển, tươi roi rói như rừng hoa nhiều thập kỷ nay! Với bút pháp sắc xảo của nhà văn Nam Cao, nhiều nhà phê bình đã đánh giá “Chuyện nghề của ông ở một trình cao chưa có ai thay thế đỉnh ông đang ngự”! Nhà văn Nam Cao xứng đáng là niềm tự hào của văn hoá người Việt Nam, ngay cả việc so với thiên hạ các dân tộc ở năm châu, bốn biển trên hành tinh này!

Trong bối cảnh xã hội đương đại so sánh với xã hội phong kiến sự thực như thế nào, mỗi chúng ta là một nhân chứng, cơ hội rất tốt cho các nhà văn hiện thực mới ra đời, nhưng đến giờ vẫn chỉ là một số bài báo, phóng sự, bút ký phản ảnh, giống như vài cái hòn đá ném xuống ao bèo. Thời gian đã ngấm qua bảy mươi năm trời, nước là vật chất thấm nhanh nhất, khoảng thời gian dài như thế đủ để ngấm qua, ngấm lại quả đất vài lần, nếu tính vòng tuổi đời trung bình người Việt là 30 năm thì cũng là hai đời người có dư, chỉ để hiểu một điều, bản chất chế độ thực hư như thế nào, tất ai chẳng rõ?

Chúng ta cần sự có mặt của các nhà văn, các cây bút hiện thực phê phán lên tiếng để góp phần chỉnh hướng xã hội đi tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội văn minh, bác ái. Lực lượng cầm bút bây giờ nhiều hơn thời ngày xưa tính bằng triệu lần, kiểm kê thì than ôi, thật buồn, họ chỉ biết ăn theo, nói leo, không có chứng kiến gì, giống chàng “sái mõ” ngày xưa, cả ngày cứ loa loa loa, chiềng làng, chiềng nước… Thật uổng cho ngân sách nhà nước nuôi đội quân này “vô bổ”, mà ngân sách chủ yếu bằng nguồn thu thuế của công dân và cũng chưa phải là nước giàu. Trách họ xét cho cùng cũng không được, khó lắm, số đông họ quấn bởi câu chuyện chuột, mèo, bức tường và gió trong một xã hội thực dụng các món ăn ẩm thực càng ngày càng phong phú, miên man lý lẽ.
Thôi, nói chuyện hiện thực này lạc đề do vận nước, tôi dành thời gian kể về những cảnh trong truyện ngắn, cảnh quê hương nhà văn trong đó có cảnh gia quyến họ hàng qua chuyến đi ngắn.

II. Một ngày đầu đông
         Một ngày đầu đông năm Giáp Ngọ, tôi được đến thăm quê hương nhà văn Nam Cao nhờ một duyên trời, nói cách khác tôi không bao giờ dám nghĩ có một lần đến thăm. Những người tôi quen là người trong gia quyến nhà văn Nam Cao thế mới tuyệt vời chứ, chúng tôi được đưa đến tất cả những người anh em, con cháu ruột thịt của nhà văn và những nơi có trong cảnh truyện ngắn Chí Phèo như nhà Bá Kiến, lò gạch bãi sông …
Quê hương nhà văn Nam Cao ở bên hữu hạ lưu sông Hồng, thuộc tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, phủ Lý Nhân nay đổi tên là xã Hoà Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Nam Cao được ghép bởi chữ Nam từ tên huyện Nam Sang, chữ Cao từ tên tổng Cao Đà, đây là bút danh chính, còn một số bút danh khác là sự tuỳ hứng không rõ nguyên cớ. Ông tên thật là Trần Hữu Tri, không phải là Trần Hữu Trí và sinh năm 1915 không phải sinh năm 1917 như một số sách, báo đã xuất bản, thông tin. Ông sinh ngày 29 tháng 10, ông mất ngày 30 tháng 11 năm 1951, hưởng thọ 36 tuổi, có nhiều người nói như là nhà tiên tri con số 15 hoán vị là 51 tức “hết số”, thực ra ông bị bọn Pháp chặt đầu, chôn liền mấy người cùng một hố. Xác các chiến sĩ hoạt động cách mạng được mang về mai táng ở nghĩa trang xã Gia Xuân, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Đến ngày 18/01/1998 Viện khoa học hình sự, Bộ công an kiểm tra AND xác nhận xương cốt của ông Trần Hữu Tri là nhà văn Nam cao, là liệt sỹ và rước về quê nhà an táng. Chính quyền và nhân dân xây dựng nhà tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ ở ngay bên quốc lộ 38B cột mốc km 77, cách Hữu Bị 3 km.


Nhà văn có tám anh em, ông là anh cả và có bốn em trai, ba em gái, hiện còn sống hai người là ông Trần Hữu Đạt, sinh năm 1922 sống ở làng và em út Trần Hữu Tiến sinh năm 1931 sống ở Hà Nội. Nhà văn có năm người con thì mất một khi mới hai tuổi là Trần Thị Bình Yên, còn bốn người, con đầu sinh năm 1938, con út sinh năm 1950 (1951 nhà văn mất, người con út không biết mặt người cha). Người vợ tần tảo đáng yêu của ông cũng là người bạn đồng hành với sự nghiệp văn chương là bà Trần Thị Sen, kém ông 2 tuổi, đã qua đời năm 2002, hưởng thọ 85 tuổi.

Gia đình nhà văn Nam Cao
Khu vực đền Trần (Nam Định) dân các xã phần đông mang họ Trần, quên hương nhà văn ở kề đền Trần, nên chuyện cùng họ lấy nhau rất phổ biến từ bao đời nay. Vợ chồng nhà văn Nam Cao đều họ Trần cũng là chuyện bình thường, họ lại thích lấy nhau như để nhớ câu chuyện ở cung đình đời nhà Trần, cấm không được lấy người họ khác. Mộ phần Trần Thủ Độ và Trần Thừa cũng ở gần làng nhà văn, nên ảnh hưởng rất lớn đến tiềm thức người dân khu vực quanh đền Trần. Ngày xưa, khoa học về gen người Việt chưa biết, các vị vua Trần chỉ nghĩ đến chuyện độc quyền thống trị thiên hạ, tuy không dân chủ như thời nay, nhưng Nhà Trần là trang sử oai hùng và thịnh vượng dài nhất trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc.

Bs.Th và má Trần Thi M - Cháu nhà văn 
Con gái các làng quanh đền Trần là thế, rất ít người như má Trần Thị Mùi lấy chồng khác họ Trần. Thời hoà bình mới lập lại, má yêu một chàng trai tập kết và theo chồng vào vùng đất Mũi Né, tỉnh Bình Thuận sinh sống. Nên trong ký ức về nhà văn Nam Cao, ông Cậu họ cũng không nhiều, toàn chuyện thời niên thiếu ở xóm quê, nhưng độc đáo chưa báo chí nào đăng tải. Má là người đậm chất Bắc “công, dung, ngôn, hạnh” và pha trộn cái chất Nam, khiến ai đó rất cảm tình khi tiếp xúc. Má yêu quê Bắc lắm, năm nào cũng về làng Đại Hoàng vài tháng, má bảo: “má chưa đọc truyện ngắn Chí Phèo, biết cụ Bá Kiến, không biết Thị Nở là ai?” Nếu má hiểu văn học là hư cấu thì chắc má đã không thắc mắc: “Ở quê từ tấm bé mà không biết Chí Phèo là ông nào, Thị Nở là bà nào?” Việc này, có mỗi cụ Trần Hữu Tri biết rõ địa chỉ, hành tung các nhân vật của mình là ai?
Cảnh toàn nhà cụ Bá Kiến
Hiên nhà


Trần nhà
Bậc cửa
Hai vợ chồng bác sĩ D. và bác sĩ Th. đưa chúng tôi đến thăm ngôi nhà cụ Bá Kiến, xem một loạt bức ảnh mô phỏng ngôi nhà Bá Kiến cả trong lẫn ngoài. Chúng ta hình dung được một ngôi nhà ba gian, phần bên trong bằng gỗ lim, phần mái lợp ngói mũi hài có lót một lớp ngói màn, tất cả còn tốt nguyên chưa một lần đảo mái. Trong nhà không còn đồ đạc như mô tả trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao, do đã bán “qua tay” hai chủ. Gần đây sở văn hoá Hà Nam mua lại với giá 700 triệu đồng để bảo tồn di tích văn hoá, giữ lại tuyên truyền cho thế hệ sau và thuê một người trông nom. Xung quanh ngôi nhà là vườn cây ăn quả, nhưng các phía đều bị lấn đất xây nhà kiểu mới, chỉ còn mảnh vườn trước sân nhà vài chục mét vuông. Tóm lại, nhà cụ Bá Kiến nhìn từ góc hữu hình chỉ là một căn nhà cấp bốn với mảnh vườn đang trồng cây ổi và chuối ở giữa làng Hoà Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, giá trị thực không đáng gì mà chỉ có giá trị về tinh thần là vô định.
 Nhưng hình ảnh nhà Bá Kiến bị mờ nhạt ở thì đương đại, vì so sánh các khối tài sản kếch sù của các đại gia hay quan chức quá lớn hàng tỷ tỷ lần, chẳng qua là cách nói ví von, ám thị mà thôi. Nói thêm, cụ Bá Kiến “tham” còn “lành” chán, quan lại thời nay “tham” mới “ác” chứ!
Có câu chuyện dăn đời, ăn một quả khế trả ba cục vàng, may túi ba gang mang ra mà đựng. Ngày xưa nghèo nên chỉ may túi ba gang là đựng được nhiều lắm rồi, ngày nay giàu, nên chuyện mang cả súc vải ra may túi cũng cũng là chuyện bình thường. Chí Phèo cào mặt ăn vạ, cụ Bá Kiến còn “keo bẩn” tiếc mấy đồng trinh không muốn cho, xét cho cùng, cụ Bá Kiến giàu nhất làng Vũ Đại thực ra cũng còn quá nghèo. Nghe nói bên cạnh ngôi nhà cụ là cháu ngoại mới ba đời của cụ Bá Kiến không nhận họ hàng giả “điếc” vì ngại cái tiếng tăm xấu xa trong dư luận từ tác phẩm văn học của nhà văn Nam Cao và mặc cảm do tuyên truyền định kiến của Việt Minh. Cụ Bá Kiến ở làng Đại Hoàng thực không thế, cụ sống rất tốt, rất đạo đức, người văn hoá kém đâu hiểu được văn chương là gì, khổ thế, vẫn là vấn đề nhận thức. Văn học là hư cấu (bịa) bà con dân làng cứ nghĩ là thực ghét các nhân vật phản diện như cụ Bá Kiến… Cụ tên thật là Trần Duy Bính (1887 -1948) có 5 người vợ, 3 người con trai, chín người con gái, hàng con đều đã mất, chỉ còn hàng cháu, hàng chắt.
Người nghèo ở làng thường nhìn người giàu như chánh tổng, lý trưởng là ghê lắm, độc ác lắm, các quan lại cao hơn thường không hiểu gì, nhà văn Nam Cao nhận thức cũng thế và đã xây dựng một nhân vật đại diện cho chính quyền phong kiến thối nát. Giá như vốn sống của ông đã trải ở cung bậc khác thí dụ như đã từng làm quan ở triều đình của chế độ phong kiến thì bức tranh phê phán của ông sâu sắc, điển hình hơn, logic quy nạp cũng có giá trị hơn phép suy diễn trong phương pháp biểu đạt miêu tả hiện thực. Bởi vậy giá trị đích thực của những tác phẩm của nhà văn Nam Cao có giới hạn trong tầm văn hoá của chính người cầm bút, xét cho cùng thời ấy có mấy người học hành đến nơi đến chốn, thế là nhất rồi. Tất cả đều phụ thuộc vào năng lực sáng tạo của cá nhân nhà văn và không lệ thuộc vào bất cứ yếu tố nào có tính xã hội, nếu có chỉ là cách nói bao biện cho bản lĩnh chủ thể của tác giả mà thôi. Thế hệ sái mõ lắm lý lẽ…

Chợ chiều bán tất cả các nông sản của làng...
Chợ chiều và các thôn nữ tam tứ tuần...









Tôi chụp mấy bức ảnh làm kỷ niệm, mấy cô gái chắc đã có chồng con lớn là đằng khác lấy tay che mặt bẽn lẽn, ngượng ngùng. Cái cảm nhận chất quê từ ký ức hiện về thúc giục tôi cứ muốn chụp thêm những “thần sắc” những cô gái xấu hổ… Cái cử chỉ ấy khó tả, gần gũi, đáng yêu vô cùng và cũng kỳ lạ, gió đâu đó đổ về thổi mạnh, mái quán tốc tưởi bay lung tung, mấy cô gái bán hàng má ửng đỏ, làm cảnh quê giàu hơn sắc màu lãng mạn… Tôi và cậu Th. cứ đi hết hàng này đến hàng nọ, mua đầy cả hai tay đủ các thứ… Bác sĩ Th. thì khéo tìm ra được nồi cá kho giá nửa triệu bạc, đặc sản số 1 của quên hương để khoe với khách, cứ giục về. Tôi thì muốn được hưởng cái hương quê, chất người quê, tại tí nữa chúng tôi về Hà Nội, đất thị thành thì lấy đâu ra cái cảnh “lấy bàn tay che mặt, mà bàn tay lại nhỏ và xoè ra thì sao che được, còn cái má ửng đỏ kia thì dấu vào đâu…” 

Cá kho và bánh đúc - Hai đặc sản quê nhà văn

Về đến nhà vợ chồng bác sỹ D. bác sỹ Th. chúng bỏ bánh đúc và cá kho ra “chén” luôn. Từ bé tôi đã thích bánh đúc, nhưng bánh đúc thời hậu sinh của làng nhà văn so với bánh đúc trên đất thị thành thủ đô thì kém xa cả về chất, cả về hình thức, nhưng nó là nhất thì vẫn là đặc sản chứ ai bảo là không? Còn cá kho thì quả là đáng khen, cá được kho theo công thức kỳ công trong thời gian ít nhất nửa ngày bằng củi gỗ từ các cành khá to để có lửa đậm. Miếng cá kho to đưa vào miệng ăn như cắn quả ổi lớn, bùi ngậy khác xa hương vị kho tộ, có ai dám đưa những miếng cá ở nồi kho tộ vào miệng ăn khi uống với nước chè không? Thế mà, ăn lại ngon, thi vị vô cùng, sướng thật, thế mới đáng gọi là đặc sản, còn cá Trắm là nguyên liệu chính thì đâu mà chẳng đầy. Nghe nói người đun nhiều nồi cá để đem đi bán theo đơn đặt hàng ở những đám cưới hạng sang, những tiệc có người ngoại quốc sành ăn…phải là những phụ nữ chưa lấy chồng hay chưa từng yêu đương… Tôi chưa tỏ “phong tục” ấy!
           
Nhà cụ Trần Hữu Đạt sinh năm 1922 - Em trai nhà văn

Các con cháu nhà văn Nam Cao

Đến nhà cụ Trần Hữu Đạt, em trai của cố nhà văn Nam Cao, cụ sống một mình trong căn nhà ba gian (trong ảnh) với khoảng ba sào vườn trồng cây ăn trái đang bỏ hoang. Gặp con cháu, cụ không có biểu hiện vui mừng gì, hỏi mãi mới có câu trả lời, nghe nói cụ “tai biến” gần đây, còn cụ bà thì đã qua đời mấy năm nay. Người con trai cụ Trần Hữu K, hy sinh năm 1968 ở mặt trận phía Nam, khi mới hai mươi tuổi đời, đã để lại cho cụ những đồng tiền xương máu ít ỏi sống qua ngày. Những người nông dân ở Việt Nam về già không có chế độ gì đành nhờ vào con cái cưu mang. Bối cảnh những người già ở nước nhà hiện nay là thế, chiếm một phần ba dân số đã làm thành một dấu hỏi lớn:“Xã hội đã làm được gì cho những cao tuổi hay chỉ vài cái chương trình của các tổ chức văn hoá xã hội hay một vài trại cứu bần hay từ 80 tuổi trở lên được hưởng 180.000 đồng/tháng?” Một thực trạng rất bi thảm cả về phương diện pháp lý và đạo lý, kéo dài từ ngày thành lập nước (1945) đến nay, vẫn chưa có lời giải, cho dù ở mức độ thấp nhất so với nước ngoài. Bổn phận là con cái ai cũng mong bố mẹ sống vui, sống khoẻ, gặp cảnh nghèo thiếu thốn thì sao, gặp cảnh giàu vật chất, đạo đức nhân cách kém thì sao? Tệ nạn bỏ mặc bố mẹ là người đã dứt ruột đẻ ra vất vả nuôi dưỡng và họ lại “vin” vào cái lý “nợ đồng lần” khá nhiều, người loại này phần đông lại ở đô thị, bố mẹ ở làng quê nhà. Nhà văn Nam Cao còn có người em trai út đang sống ở Hà Nội, thi thoảng mới về quê hương làng Đại Hoàng để thắp cho cha mẹ, họ hàng nén nhang. Cuộc sống khó khăn, ai cũng “vin” vào câu nói “Kiến giả, nhất phận”, văn hoá người Việt vẫn đang là thế, chưa có cơ sở gì đổi vận!  

II. Nhà tưởng niệm nhà văn, liệt sỹ Nam Cao
         Trong số các nhà văn trong dòng hiện thực phê phán thì nhà văn Nam Cao được hưởng một ngôi nhà lớn trong một khuôn viên rộng vài sào ruộng và lại nằm ngay cạnh quốc lộ 38B khang trang nhất. Bên trong được bố trí, trung cung là bàn thờ, có tượng bán thân, hai bên trưng bày ảnh, sách, lưu niệm…Sự ngưỡng mộ tài năng của nhà văn, khi chúng tôi được chứng kiến sự đãi ngộ của chính quyền, nhân dân địa phương cũng thấy yên lòng, đặc biệt mộ phần xây dựng rất đúng cốt cách, đẹp đẽ thanh quang.

Con người không ai tránh được cái chết, nhiều thuyết giáo nơi “chín suối kia” mới là cuộc sống vĩnh hằng của đời con người, vậy thì quỹ thời gian còn vô biên, lo gì? Nhà văn Nam Cao khi ở trên trần gian, ông đã rạch nền trời bằng ngòi bút sắc xảo, có một không hai trong nhân loại, ở thế giới bên kia ông vẫn trăn trở về một xã hội nhân văn, ông mong thế hệ sau tài giỏi nối tiếp sự nghiệp còn đang dở dang đúng không ạ?



Kính bậc tiền bối!
Cộng đồng người Việt Nam trên toàn thế giới sẽ biến giấc mơ của nhà văn 
thành sự thật!

                                            Hà Nội, tháng 12 năm 2014



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét