NGUYỄN ÁI QUỐC - HỒ TẬP CHƯƠNG HAI NGƯỜI HAY MỘT?
Ngày 14/1/2013 trang điện tử Thông Luận đăng một tài
liệu nhan đề: “Hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo” của nhà biên khảo Hồ Tuấn Hùng người
Đài Loan. Thái Tuấn dịch ra Việt ngữ nhan đề “Tìm hiểu về cuộc đời của Hồ Chí
Minh” hoàn tất vào đầu năm 2013. Trang điện tử Đối Thoại đăng ngày
16/2/2013.
Đọc qua cuốn sách dịch người ta tưởng là chuyện dã sử nói chơi lúc
trà dư tửu hậu. Nhưng đọc kỹ thì không phải vậy. Cuốn sách của ông Hồ Tuấn Hùng
viết một cách có phương pháp, trưng dẫn tài liệu xác thực và kết luận một cách
có tính khoa học. Danh nhân lịch sử của đảng Cộng sản Việt Nam cũng như của
phong trào Cộng sản quốc tế được biết dưới tên Nguyễn Ái Quốc và sau đó là Hồ
Chí Minh vốn được xem là một người thật ra là hai người khác nhau. Theo ông Hồ
Tuấn Hùng sự thật lịch sử
Ông Hồ Chí Minh, người được đảng Cộng sản Việt Nam xem
là “cha già dân tộc” là một người Tàu sinh năm 1901 thuộc sắc tộc Khách Gia
sinh tại huyện Miêu Lật, địa khu Đồng La, Đài Loan. Trái lại, người có tên Nguyễn
Ái Quốc là người Việt Nam sinh năm 1890 tại huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Ông có
tên khai sinh là Nguyễn Tất Thành. Năm 1911 ông trốn ra nước ngoài tìm đường chống
ách thực dân Pháp. Đến Pháp ông theo phong trào Cộng sản quốc tế và được Quốc tế
Cộng sản phái về hoạt động cho phong trào Cộng sản quốc tế tại Trung quốc và đã
chết vì bệnh lao năm 1932 tại Trung quốc hoặc tại một địa danh nào đó giữa
Trung quốc và Liên xô.
SỰ THẬT Ở ĐÂU ? Nghi án lịch sử này bắt đầu với
phong trào Cộng sản tại Nga. Năm 1917 cuộc cách mạng Bôn Sê Vích (Bolshevik) tại
Nga thành công. Mạc Tư Khoa trở thành trung tâm lãnh đạo các đảng Cộng sản tại
Âu châu và là trung tâm thu hút các phong trào xã hội cấp tiến trên thế giới,
như phong trào chống phong kiến tại Trung quốc và phong trào chống thuộc địa tại
Đông Dương, Miến Điện, Mã Lai …. Trung quốc có Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình, Mao
Trạch Đông, Việt Nam có Nguyễn Ái Quốc, Miến Điện có ông Aung San (thân sinh của
bà Aung San Suu Kyi).
Đảng Cộng sản Nga thấy được sự quan trọng của mình cho
thành lập Quốc tế Cộng sản (The Communist International – Cominterm) để lãnh đạo
phong trào Cộng sản trên toàn thế giới, nhất là Á châu. Các phong trào có tính
quốc gia như Trung quốc chống phong kiến, Việt Nam chống thực dân Pháp và Miến
Điện chống thực dân Anh dần dà đều đặt mình dưới sự lãnh đạo của Quốc tế Cộng sản
để có: (1) một chủ thuyết hành động, và (2) được yểm trợ tài chánh.
Nguyễn Tất Thành từ Việt Nam đến Paris năm 1911 bằng
nghề phụ bếp trên tàu Amiral Latouche Trevil, theo tàu đến Marseille, Tây phi,
Bắc Mỹ, Anh quốc, mãi đến năm 1917 ông mới định cư tại Paris. Ông lấy tên là
Nguyễn Ái Quốc và tích cực hoạt động chống ách đô hộ của Pháp tại Việt Nam. Tại
đây Nguyễn Ái Quốc làm quen với hai nhà hoạt động cách mạng Phan Chu Trinh và
Phan Văn Trường. Lúc đầu ông là thành viên của đảng Xã hội Pháp. Sau đó, năm
1920 ông gia nhập đảng Cộng sản Pháp. Ông bị cảnh sát Pháp phối hợp với mật
thám tại Đông Dương theo dõi rất kỹ. Giữa năm 1923 đảng Cộng sản Pháp gởi ông
đi Nga học chủ thuyết Mác Xít tại Đại học Lao động Phương đông chuẩn bị làm đặc
phái viên cho Quốc tế Cộng sản tại Á châu.
Giữa năm 1924 ông được tham gia Hội
nghị V của Quốc tế Cộng sản triệu tập tại Mạc Tư Khoa và cuối năm ông được gởi
về Quảng Châu (Canton), Trung quốc để làm việc với các đại diện Cộng sản Á châu
gồm Trung hoa, Nhật Bản, Đài Loan. Nguyễn Ái Quốc phụ tá cho Michael Borodin, ủy
viên lãnh đạo phân bộ Quốc tế Cộng sản Á châu. Tại đây, năm 1925 Nguyễn Ái Quốc
tập họp một số thanh niên từ Việt Nam trốn qua thành lập “Việt Nam thanh niên
cách mạng đồng chí hội” đặt dưới sự lãnh đạo của Quốc tế Cộng sản.
Tháng 10 năm 1926 ông kết hôn với bà Tăng Tuyết Minh
do sự giới thiệu của bà Đặng Dĩnh Siêu (vợ của Chu Ân Lai) lúc đó đang hoạt động
trong Hội Phụ nữ Quảng Châu. Đám cưới có sự hiện diện của Borodin.
Thời kỳ này
Quốc Dân Đảng của bác sĩ Tôn Dật Tiên và đảng Cộng sản Trung quốc hợp tác với
nhau (theo sách lược của Quốc tế Cộng sản) nên Nguyễn Ái Quốc sống và làm việc
thoải mái tại Quảng Châu. Nhưng đến tháng 4/1927 liên minh Quốc Dân Đảng và Cộng
sản tan vỡ, Nguyễn Ái Quốc bị lùng bắt bỏ vợ chạy trốn về Mạc Tư Khoa chờ lệnh
và mất liên lạc với bà TăngTuyết Minh từ đó.Tại Mạc Tư Khoa ông được Quốc tế Cộng
sản gởi trở lại Paris và du hành công tác tại một số nước Âu châu như Thụy Sĩ,
Bĩ, Ý … Cuối năm 1928 từ Ý Nguyễn Ái Quốc đi tàu thủy trở lại Á châu đến
Bangkok tổ chức và vận động Việt Kiều Thái Lan tham gia phong trào Cộng sản. Tại
đây ông bị bệnh lao phổi phải ở lại để chữa trị, đến đầu năm 1930 ông mới trở về
Quảng châu do nhu cầu kéo các phe nhóm cộng sản Đông Dương gồm Đông Dương Cộng
sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương cộng sản Liên đoàn đang bất hòa lại
với nhau.
Qua nhiều buổi họp dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc,
ngày 3/2/1930 bảy đại biểu của 3 khuynh hướng đồng ý thành lập Đảng Cộng Sản Việt
Nam (sau theo chỉ thị của Quốc tế Cộng sản đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông
Dương). Trong số 7 nhân vật thành lập đảng ngoài Nguyễn Ái Quốc có Hồ Tập
Chương thuộc đảng Cộng sản Trung quốc và cũng là thành viên của Quốc tế Cộng sản.
Hồ Tập Chương là nhân vật dính liền với cuộc đời của Nguyễn Ái Quốc sau này.
Năm 1931 Nguyễn Ái Quốc được cử làm đại biểu Quốc tế Cộng
sản trụ sở đặt tại Hương Cảng, phụ trách Cục Nam Dương. Thời gian này chính quyền
Anh tại Hương Cảng bắt đầu hợp tác với Pháp làm khó dễ những nhà cách mạng Việt
Nam, và cục Quốc tế Cộng sản Viễn Đông bị theo dõi.
Tại Việt Nam Pháp ghép Nguyễn
Ái Quốc vào tội phá họai trị an tuyên án tử hình vắng mặt và yêu cầu chính quyền
Anh dẫn độ. Ngày 6/6/1931 Nguyễn Ái Quốc bị cảnh sát Hương Cảng bắt. Quốc tế Cộng
sản thuê luật sư Frank Loseby một luật sư người Anh hành nghề tại Hương Cảng
bênh vực cho ông. Tòa Hương Cảng trục xuất Nguyễn Ái Quốc đi Singapore. Nhưng
Singapore không nhận, ông phải trở lại Hương Cảng và bị kết tội nhập cảnh trái
phép.
Luật sư Loseby đưa vụ kiện lên tòa cao ở Luân Đôn. Tòa Luân Đôn phán quyết
phóng thích và trục xuất ông ra khỏi Hương Cảng đi đâu tùy ý. Luật sư Loseby
gíup ông đi Thượng Hải để ông tìm đường đi Mạc Tư Khoa trị bệnh. Nhưng giữa đường,
khoảng mùa Thu năm 1932 hay đầu năm 1933 Nguyễn Ái Quốc chết vì bệnh lao tại một
địa danh nào đó trên đường đi.
Sự việc Nguyễn Ái Quốc qua đời được nhóm lưu học
sinh Việt Nam tại trường Đại học Phương Đông ở Mạc Tư Khoa ghi nhận. Họ cử hành
một lễ truy điệu và một phái viên Quốc tế Cộng sản có đến thăm hỏi chia buồn.
Nhưng
sau đó Quốc tế Cộng sản thầy cần người có uy tín như Nguyễn Ái Quốc để phát triển
phong trào Cộng sản tại Đông Dương nên dấu nhẹm và tìm cách xóa dấu vết việc Nguyễn
Ái Quốc chết và lên kế hoạch dùng phái viên của Quốc tế Cộng sản Hồ-Tập-Chương
có khuôn mặt hao hao giống Nguyễn Ái Quốc và từng làm việc với nhau để làm sống
lại nhân vật Nguyễn Ái Quốc.
Hồ Tập Chương sinh ngày 11/10/1901 tại Đài Loan thời kỳ
Nhật chiếm đóng. Theo chương trình của Nhật ông học chữ Nhật và chữ Hán. Năm 20
tuổi ông tốt nghiệp Đại Học Công Nghiệp Đài Loan và mở tiệm bán thuốc Đông Y,
dùng thì giờ còn lại kết hợp bạn bè, nghiên cứu chủ nghĩa Cộng sản chống ách
cai trị của Nhật .
Năm 1926 ông lập gia đình với bà Lâm Quế, năm 1929 có
con gái đầu lòng là Hồ Tố Mai. Sau đó ông trốn đi Thượng Hải gia nhập Đảng Cộng
sản Trung quốc và trở thành một ủy viên của Quốc tế Cộng sản. Cuối năm 1931
(hay đầu năm 1932) ông bị Quốc Dân Đảng bắt tại Quảng châu. Sau khi được trả tự
do ông được điều về hoạt động tại biên giới Việt Trung và Thái Lan.
Năm 1933 Quốc
tế Cộng sản gọi Hồ Tập Chương về Mạc Tư Khoa điều tra về một công tác bị nghi
ngờ trong năm 1930. Ban điều tra gồm 3 người: Dmitry Manuilsky, Vera Vasilieva
và Khang Sinh. Khang Sinh cũng là đảng viên đảng Cộng sản Trung quốc phụ trách
mật vụ. Bà Vera Vasilieva đã bênh vực Hồ Tập Chương và ông khỏi bị án tử hình.
Trong quá trình điều tra, bà Vasilieva thấy quá khứ của
Hồ Tập Chương khá giống với quá khứ của Nguyễn Ái Quốc và lại là người cùng với
Nguyễn Ái Quốc thành lập đảng Cộng sản Đông Dương nên nảy ra sáng kiến và đề
nghị với Quốc tế Cộng sản dùng Hồ Tập Chương thay thế Nguyễn Ái Quốc. Cũng có
giả thuyết rằng Quốc tế Cộng sản đã có kế hoạch thay thế rồi và việc gọi Hồ Tập
Chương đến Mạc Tư Khoa điều tra là một phần của kế hoạch thay thế.
Một chương trình 2 điểm được thực hiện: (1) huấn luyện
Hồ Tập Chương để thay thế nhân thân Nguyễn Ái Quốc. Chương trình huấn luyện này
kéo dài 5 năm từ 1933 đến 1938 tại trường Đại Học Lenin chuyên nghiên cứu vấn đề
dân tộc và chủ nghĩa thực dân thuộc chuyên ngành của Nguyễn Ái Quốc, đồng thời
học những tập quán thói quen của Nguyễn Ái Quốc, và các ngôn ngữ Nguyễn Ái Quốc
thông thạo như Việt ngữ, Pháp và Anh Ngữ. (2) Ngụy tạo sự việc để che dấu cái
chết của Nguyễn Ái Quốc cho rằng cái tin chết trước đây chỉ là cái cớ để Nguyễn
Ái Quốc dễ trốn tránh.
Thời gian này Hồ Tập Chương không được liên lạc với
gia đình và thân nhân ở Đài Loan nghĩ rằng ông đã chết. Năm 1938 sau khi chương
trình huấn luyện hoàn tất, Hồ Tập Chương mang bí danh Hồ Quang được gởi về
Trung quốc hoạt động dưới danh phận Nguyễn Ái Quốc tái sinh.
Lúc này lực lượng của Mao Trạch Đông sau cuộc Vạn lý
Trường chinh (1934-1935) thành công, đã an toàn ở Diên An và Mao Trạch Đông
không muốn bị ràng buộc chặt chẽ với Quốc tế cộng sản như trước. Đó là lý do tại
sao Hồ Quang thay vì đi thẳng về Quảng Tây để chuẩn bị cho công tác Đông Dương
lại được Quốc tế Cộng sản gởi về Diên An để (theo một giả thuyết) truyền lệnh của
Quốc tế cộng sản và trao đổi chương trình hoạt động. Theo quan điểm của Quốc tế
cộng sản nhu cầu liên minh với Quốc Dân Đảng để chống Nhật vẫn còn là một nhu cầu
cấp thiết.
Việc Hồ Tập Chương thay thế Nguyễn Ái Quốc phục vụ cho quyền lợi của
Quốc tế Cộng sản, cho đảng Cộng sản Trung quốc và cho đảng Cộng sản Việt Nam
nên các tổ chức đều chọn thái độ im lặng. Quốc tế Cộng sản có một cán bộ uy tín
dưới lốt Nguyễn Ái Quốc để phát triển chủ nghĩa Cộng sản tại Á châu và Đông Nam
Á. Trung quốc có người của mình trong đảng Cộng sản Việt Nam. Còn đảng Cộng sản
Việt Nam thì có người lãnh đạo phong trào đấu tranh chống Pháp lúc này đang là
lúc thuận lợi hơn lúc nào hết do Mặt Trận Bình Dân đang cầm quyền tại Pháp
(1936- 1938).
Đến Diên An, Hồ Quang trao mật lệnh của Quốc tế Cộng sản
cho Mao Trạch Đông là cần tiếp tục hợp tác với Tưởng giới Thạch trong một mặt
trận chống Nhật Bản. Sau đó đảng cộng sản Trung quốc đưa Hồ Quang về Quảng Tây.
Về Quế Lâm, Hồ Quang làm việc cho Bát lộ quân dưới quyền
của tướng Lý Khắc Nông chuẩn bị cho công tác Đông Dương. Thời gian này Hồ Quang
theo học khóa đào tạo cán bộ du kích chiến của Mao Trạch Đông và hoàn tất trong
năm 1939.
Tháng 2/1940 Hồ Quang đi Côn Minh và qua đảng Cộng sản Trung quốc đã
liên lạc được với Đảng bộ hải ngoại vừa được thành lập của đảng Cộng sản Đông
Dương. Giữa năm 1940 khi gặp một số cán bộ từ Việt Nam mới qua trong đó có Võ
Nguyên Giáp (Giáp rời nước tháng 5/1940) Hồ Quang được giới thiệu là đồng chí
Nguyễn Ái Quốc làm mọi người rất phấn khởi vì đã gặp được lãnh tụ! Hồ Quang định
gởi Võ Nguyên Giáp và Hoàng Văn Hoan lên Diên An học tập chủ thuyết Cộng sản và
chương trình kháng Nhật, một chương trình do Khang Sinh phụ trách.
Trong khi chờ đợi thì tình hình Âu châu biến chuyển.
Tháng 6/1940 Đức quốc xã chiếm Paris. Toàn quyền Decoux tại Đông Dương đặt mình
dưới quyền của chính phủ Vichy do Thống chế Pétain lãnh đạo hợp tác với Đức. Nhật
vốn liên minh với Đức nên buộc lòng Decoux phải để cho quân đội Nhật vào Đông
Dương.
Hồ Quang thấy tình hình thuận lợi vì Pháp đã núng thế nên hủy bỏ việc gởi
Hoàng Văn Hoan và Võ Nguyên Giáp đi học và chuyển toàn bộ nhân sự và phương tiện
về sát biên giới chuẩn bị lập chiến khu trong nước, đồng thời tháng 12/1940 Hồ
Quang thành lập một ngoại vi của đảng hoạt động công khai gọi là “Việt Nam độc
lập đồng minh hội”, gọi tắc là Việt Minh để quy tụ quần chúng chuẩn bị phát động
du kích chiến vừa chống thực dân Pháp vừa chống phát xít Nhật.
Tháng 2 năm 1941 Hồ Quang chính thức trở về Việt Nam sống
tại hang Pắc Bó, một hang núi nằm phía bắc cách thành phố Cao Bằng 55 km gần
biên giới Trung quốc. Tháng 5, Hồ Quang triệu tập Hội nghị VIII Đảng Cộng sản
Đông Dương ra quyết nghị thành lập và phát triển căn cứ địa du kích, chung quyết
sự thành lập “Mặt trận Việt Minh” và do đề nghị của Hồ Quang bầu Trường Chinh
làm Tổng bí thư Đảng. Mặt Trận “Việt Minh” thông qua Cương Lĩnh quy định mục
tiêu lật đổ thực dân Pháp và phát xít Nhật, thành lập Chính phủ cách mạng của
nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lấy cờ đỏ sao vàng làm quốc kỳ.
Tháng
8/1942 Hồ Quang rời Pắc Bó đi Trùng Khánh để gặp Chu Ân Lai. Đế tránh sự theo
dõi của Quốc Dân Đảng, Hồ Quang đóng vai Hoa kiều, lấy tên là Hồ Chí Minh, ký
giả của báo Tân Văn. Đây là lần đầu tiên Nguyễn Ái Quốc dùng danh xưng Hồ Chí
Minh trong giấy tờ.
Trên đường Hồ Chí Minh bị Quốc Dân Đảng nghi là gián
điệp bắt và đưa về Quảng Tây. Nhờ có cuộc vận động rộng lớn của Chu Ân Lai với
sự yểm trợ của các hãng thông tấn quốc tế bên cạnh chính phủ Quốc Dân Đảng,
tháng 9/1943 Hồ Chí Minh được trả tự do.
Trong 14 tháng bị giam giữ ông Hồ Chí
Minh đã trải qua 18 nhà tù trong 13 huyện tại tỉnh Quảng Tây. Thời gian này Hồ
Chí Minh viết “Ngục Trung thư” gồm 134 bài thơ bằng chữ Hán.
Sau khi được trả tự
do, Hồ Chí Minh tạm trú tại Trung quốc dưới sự bảo hộ của tướng Trương Phát
Khuê, một danh tướng của Trung hoa Dân quốc. Mãi đến tháng 8/1944 ông mới trở về
Cao Bằng.
Ngày 15/8/1945 Nhật đầu hàng đồng minh, Hồ Chí Minh cùng với các đồng
chí nhanh chân chiếm chính quyền ngày 19/8 trước khi quân đội đồng minh vào tước
khí giới quân đội Nhật. Ngày 2/9/1945 tại vườn hoa Ba Đình Hồ Chí Minh, được
toàn dân và thế giới tưởng là người thanh niên Nguyễn Ái Quốc năm xưa, tuyên bố
thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.
Cuộc đời hai người làm một của Nguyễn Ái Quốc và Hồ Tập
Chương (Hồ Chí Minh) là một phát hiện lịch sử ly kỳ. Nhưng nếu nhìn dưới lăng
kính thế giới, đặc biệt là lịch sử phát triển của chủ nghĩa cộng sản và phong
trào xã hội chống phong kiến và thực dân tại Á châu thì không có gì ly kỳ.
Lịch
sử Âu châu cho chúng ta nhiều tiền lệ. Hôn nhân giữa con cái vua chúa nước này
với vua chúa nước khác đưa đến việc người nước này làm vua nước kia không phải
là chuyện hiếm. Người dân Âu châu không xem đó là chuyện lạ. Tại Á châu, Quốc tế
Cộng sản lãnh đạo phong trào xã hội và chống đế quốc, việc dùng cán bộ người nước
này lãnh đạo phong trào đấu tranh của nước khác cũng chỉ là một cách sắp xếp
công việc của một tổ chức cách mạng quốc tế. Nguyễn Ái Quốc (người Việt Nam) chết,
Quốc tế Cộng sản dùng Hồ Tập Chương (người Tàu) thay Nguyễn Ái Quốc cũng chỉ là
nhu cầu phát triển chủ nghĩa.
Lịch sử sẽ đi qua không ai quan tâm nếu Hồ Chí Minh
không nổi bật trong lịch sử thế giới với sự thắng trận tại Điện biên Phủ chấm dứt
chế độ cai trị của Pháp tại Đông Dương và nhất là vai trò của ông trong cuộc
chiến tranh 1954-1975 thắng Hoa Kỳ và thống nhất Việt Nam dưới chế độ Cộng sản.
Còn
nữa, mối quan hệ đặc biệt gữa Trung quốc và Việt Nam trong suốt hai ngàn năm lịch
sử, qua đó Việt Nam liên tục đấu tranh để giữ gìn bản thể và nền độc lập của
mình, và hiện nay mối quan hệ càng tế nhị hơn nữa khi Trung quốc đang dần trở
thành một siêu cường tranh chấp ảnh hưỏng quốc tế với Hoa Kỳ trên một địa lý Việt
Nam đang nằm ở giữa làm cho nghi án “một người Hoa dưới lốt một người Việt” từng
lãnh đạo thành công cuộc cách mạng Việt Nam và được đảng Cộng sản Việt Nam tôn
vinh là “cha già dân tộc” trở thành hết sức cấn cái .
Các biến chuyển lịch sử tại Việt Nam trong thế kỷ 20 làm
cho Hồ Chí Minh trở thành một đối tượng lý thú đối với các sử gia cũng như các
nhà nghiên cứu trên thế giới.
Và các nhà nghiên cứu về Hồ Chí Minh đều vấp phải
một điều là: lịch sử của người thanh niên tên là Nguyễn Tất Thành, người Nghệ
an, sinh năm 1890, năm 21 tuổi xuống tàu đi Pháp tìm đường chống Pháp giành độc
lập, tham gia phong trào Cộng sản quốc tế, lãnh đạo thành công cuộc đấu tranh
giải phóng dân tộc, trở thành chủ tịch Hồ Chí Minh, mất ngày 2/9/1969, sáu năm
trước khi các đồng chí của ông hoàn tất cuộc cách mạng vô sản thống nhất đất nước
dưới một chính quyền Cộng sản không phải là một lịch sử đơn giản.
Có quá nhiều nghi vấn. Năm 2000, giáo sư William J.
Duiker người Mỹ xuất bản cuốn “Ho Chi Minh: A life” (Hồ Chí Minh: Một cuộc đời).
Năm 2003 bà Sophie Quinn-Judge, người Anh xuất bản cuốn “Ho Chi Minh: The
Missing Years 1919-1941” (Hồ Chí Minh: Những năm tháng 1919-1941 không có dữ liệu).
Cả hai đều đồng ý rằng: cuộc đời của Nguyễn Ái Quốc/Hồ Chí Minh có quá nhiều
bóng mờ chưa thể soi sáng được. Bóng mờ phủ lên trên quá trình đấu tranh của
ông, bóng mờ trên tình duyên, bóng mờ trên các sáng tác, bóng mờ trong quan hệ
đối với gia đình …
Có thể bà Quinn-Judge có mối hoài nghi Nguyễn Ái Quốc và Hồ
Chí Minh là hai người. Nhưng vốn cẩn trọng bà không thể kết luận gì khi chưa có
dữ kiện chắc chắn trong tay. Bà đã lặn lội đến Mạc Tư Khoa lục lọi kho tài liệu
của Quốc tế Cộng sản được giải mật sau khi Liên bang Xô viết sụp đổ để tìm biết
quan hệ thật sự giữa Quốc tế Cộng sản và Hồ Chí Minh và ông Nguyễn Ái Quốc đã
làm gì tại Nga trong những năm tháng ở đó: 1924-1925 và 1933-1938. Bà cho biết
hồ sơ của Quốc tế Cộng sản chỉ được giải mật một phần nên bà không tìm được câu
trả lời điều bà muốn truy cứu. Tại Aix-en-Provence, miền nam nước Pháp, nơi lưu
trữ hồ sơ thuộc địa của Pháp bà tìm thấy nhiều tài liệu ghi tin tức nghi ngờ
liên quan đến cái chết của Nguyễn Ái Quốc năm 1932, nhưng cảnh sát Pháp không
quả quyết. Và Pháp vẫn để mở vấn đề Nguyễn Ái Quốc/Hồ Chí Minh mà không có một
kết luận dứt khoát.
Trong ba nơi tồn trữ hồ sơ về Nguyễn Ái Quốc/Hồ Chí Minh
thì ngoài Liên bang Xô viết, có lẽ hồ sơ của đảng Cộng sản Trung quốc là đầy đủ
nhất. Nhưng Trung quốc chưa mở hồ sơ.
Riêng Việt Nam thì vụ Nguyễn Ái Quốc/Hồ Chí Minh là một
điều hoàn toàn bí ẩn. Chẳng những không được lưu trữ mà còn có nỗ lực xóa dấu vết
lịch sử như cuốn “Vừa đi đường vừa kể chuyện” của Trần Lan đăng tải trên 88 số
Nhân Dân Nhật báo (từ số 2006 đến số 2094) trong năm 1961.Nếu có một số đồng
chí của ông Hồ Chí Minh biết thì họ cũng đã lần lượt qua đời.
Các nhà nghiên cứu
Hồ Chí Minh nhìn đâu cũng thấy bóng mờ vì cho đến đầu thế kỷ 21 không có dữ kiện
gì để họ nghi ngờ Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh là hai người.
Nhưng nếu giả
thuyết đó là hai nhân vật khác nhau đóng chung một tuồng thì cuộc đời của Nguyễn
Ái Quốc/Hồ Chí Minh không còn có bóng mờ, không có gì là bí hiểm. Tài liệu “Hồ
Chí Minh Sinh Bình Khảo” của nhà biên khảo Hồ Tuấn Hùng người Đài Loan, Thái Tuấn
dịch ra Việt ngữ nhan đề “Tìm hiểu về cuộc đời của Hồ Chí Minh” hoàn tất vào đầu
năm 2013 như đã giới thiệu trên đã giúp giải mã một số bí ẩn về Nguyễn Ái Quốc/Hồ
Chí Minh:
Cuộc tình giữa Nguyễn Ái Quốc và Tăng Tuyết Minh
Năm
1924 Nguyễn Ái Quốc từ Mạc Tư Khoa về hoạt động tại Quảng Châu làm việc cho
Michael Borodin, ủy viên Quốc tế Cộng sản phụ trách Á châu. Không khí Quảng
Châu thập niên 1920 là một không khí cách mạng trong phong trào Tôn Dật Tiên và
phong trào Cộng sản quốc tế. Tăng Tuyết minh là một phụ nữ Trung quốc trẻ tuổi
cấp tiến gần gũi với các bà Đặng Dĩnh Siêu (vợ Chu Ân Lai) và Thái Sướng (vợ một
đồng chí của Chu Ân Lai) trong hội “Phụ nữ” do Cộng sản tổ chức. Nguyễn Ái Quốc
thường lui tới hội này và quen biết với Tăng Tuyết Minh. Do sự giới thiệu của
bà Đặng Dĩnh Siêu, năm 1926 Nguyễn Ái Quốc (36 tuổi) kết hôn với Tăng Tuyết
Minh (21 tuổi) và được tạm trú trong căn gác nhà của Borodin.
Đầu tháng 4/1927 sự hợp tác Quốc-Cộng đầu tiên tan vỡ.
Bị lùng bắt Nguyễn Ái Quốc bỏ Quảng Châu cùng phái đoàn Quốc tế Cộng sản chạy
trốn lên Thượng Hải rồi sau đó đi Mạc Tư Khoa. Bà Tăng Tuyết Minh mang thai
nhưng theo lời khuyên của mẹ phá thai để tránh liên hệ với Nguyễn Ái Quốc trong
không khí khủng bố và thanh trừng các thành phần Cộng sản của Tưởng Giới Thạch.
Từ đó không có quan hệ giữa hai người và mối tình ngắn ngủi giữa hai người xem
như chấm dứt. Năm 1931 Nguyễn Ái Quốc chết bà Tăng Ttuyết Minh không hề hay biết,
bà vẫn chung thủy ở vậy suốt đời và qua đời năm 1991.
Năm 1949 Mao chiếm lục địa. Ngày 19/5/1950 bà Tăng Tuyết
Minh đọc báo thấy Chủ tịch Mao Trạch Đông chúc mừng sinh nhật thứ 60 của Hồ Chí
Minh/Nguyễn Ái Quốc (lúc đó đang ở chiến khu Việt Bắc) tưởng rằng chồng cũ của
mình còn sống. Bà tìm cách hỏi đại sứ Hoàng Văn Hoan tại tòa đại sứ Việt Nam ở
Bắc Kinh và chính quyền Trung quốc để xin liên lạc với chồng nhưng cả hai nơi đều
im lặng. Lý do đơn giản là Hoàng Văn Hoan và chính quyền Trung quốc đều biết Hồ
Chí Minh ở Việt Bắc không phải là Nguyễn Ái Quốc, chồng cũ của bà.
Năm 1956 sau Hiệp Định Geneve, Hồ Chí Minh trở về Hà nội.
Tại Quảng Châu có phong trào “đại minh, đại phóng” phong trào phụ nữ Quảng châu
đặt vấn đề “trinh tiết” của bà Tăng Tuyết Minh. Lời khai của bà tăng Tuyết Minh
không thuyết phục. Chính quyền Quảng Châu gởi văn thư lên Hội phụ nữ (lúc đó do
bà Thái Sướng làm Chủ tịch) hỏi ý kiến. Bà Thái Sướng gởi văn thư giải thích sự
việc và yêu cầu ỉm việc này vì quan hệ tế nhị giữa hai nước Việt – Trung.
Về phần
Hồ Chí Minh, ông chưa một lần thắc mắc về sự sống chết của Tăng Tuyết Minh. Người
ta bảo ông vô tình. Nhưng ông không vô tình . Ông mang lốt Nguyễn Ái Quốc, nhưng
ông biết ông không phải là người chồng xưa của Tăng Tuyết Minh.
Quan hệ tình ái giữa Nguyễn Ái Quốc và Nguyễn thị Minh
Khai
Chạy trốn Quốc Dân Đảng về đến Mạc Tư Khoa năm 1927, Nguyễn Ái Quốc được gởi
đi công tác tại một số nước Âu châu và Thái Lan. Năm 1930 Nguyễn Ái Quốc trở về
Hương Cảng dàn xếp sự bất hòa giữa các khuynh hướng Cộng sản Việt Nam, và thành
lập đảng Cộng sản Đông Dương ngày 2/3/1930. Từ đó đến đầu năm 1931 Nguyễn Ái Quốc
làm việc tại Hương Cảng với bí danh P.C. Lin và gặp Nguyễn Thị Minh Khai. Quan
hệ tình cảm phát triển và hai người (theo một giả thuyết) đã sống với nhau như
vợ chồng với sự đồng ý ngầm của các đồng chí.
Tháng 4/1932 Minh Khai bị cảnh
sát Hương Cảng bắt, và 2 tháng sau Nguyễn Ái Quốc cũng bị bắt nốt. Nguyễn Ái Quốc
sau đó bị tòa án Luân Đôn trục xuất ra khỏi Hương Cảng. Ông chết vì bệnh lao
trên đường đi Mạc Tư Khoa. Riêng bà Minh Khai bị giam 3 năm cho đến năm 1935 mới
được trả tự do. Với quan hệ giữa bà và Nguyễn Ái Quốc hai nhân vật quan trọng của
đảng Cộng sản Việt Nam, việc bà biết Nguyễn Ái Quốc chết có thể xem là một việc
đương nhiên.
Năm 1935 bà cùng hai Ủy viên khác của đảng Cộng sản
Đông Dương là Lê Hồng Phong và Hoàng Văn Nộn đi Mạc Tư Khoa tham dự hội nghị Quốc
tế Cộng sản lần thứ 7. Lúc đó tại Mạc Tư Khoa, Hồ Tập Chương với chức danh Bí
thư của Cục Viễn Đông Quốc tế Cộng sản đang học tập để chuẩn bị đóng vai Nguyễn
Ái Quốc. Hồ Tập Chương được giới thiệu với bí danh P.C.Lin và tham dự Hội nghị
VII với tư cách quan sát viên. Trong hồ sơ tham dự đại hội VII bà Minh Khai
khai đã có chồng là P.C. Lin. Dù có một P.C. Lin tại đại hội, nhưng Minh Khai
biết không phải là chồng của mình. Bà phát triển tình cảm với Lê Hồng Phong và
làm lễ cưới nhau tại Mạc Tư Khoa trước mắt P.C. Lin (Hồ Tập Chương) là một việc
tự nhiên. Dư luận thắc mắc về hôn nhân giữa Lê Hồng Phong và Minh Khai cho rằng
Nguyễn Ái Quốc từng yêu bà Minh Khai là cướp vợ của bạn, và Nguyễn Thị Minh
Khai không chung thủy vì thành hôn với Lê Hồng Phong với sự hiện diện của P.C.
Lin. Và mối tình tay ba này không thể giải thích được nếu P.C. Lin ở Mạc Tư
Khoa năm 1935 không phải là Hồ Tập Chương mà là Nguyễn Ái Quốc.
CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH THĂM HỌ HÀNG Ở NGHỆ AN
Năm 1945
khi Hồ Chí Minh (được thế giới xem là Nguyễn Ái Quốc) tuyên bố thành lập nước
Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tại Hà Nội thì người anh Nguyễn Sinh Khiêm và bà chị
ruột là Nguyễn Thị Thanh có ra Hà Nội thăm. Nhưng hình như đảng Cộng sản lấy lý
do “Bác” còn việc nước đa sự không tiện gặp. Và đã không có một ghi chép hay một
hình ảnh nào còn lưu lại về cuộc thăm viếng này. Điều này dễ hiểu vì Hồ Chí
Minh không thể gặp ông Khiêm và bà Thanh mà không lộ hình tích.
Mãi đến tháng
6/1957 sau khi song thân Nguyễn Ái Quốc đã chết, người anh và người chị đều đã
qua đời (ông Khiêm năm 1950, bà Thanh năm 1954) ông Hồ Chí Minh mới về Nam Đàn
thăm bà con. Lúc nầy trong gia tộc chỉ còn những người còn quá nhỏ khi ông bỏ
nước ra đi để có thể phân biệt Nguyễn Tất Thành và “bác” Hồ Chí Minh .
Về tài liệu gọi là loạt bài “Vừa đi đường vừa kể chuyện”
của Trần Lan
Trần Lan theo dư luận cũng chính là Hồ Chí Minh, một phụ nữ ông có
mối quan hệ thân tình. Tài liệu này đăng trên nhiều số Nhật Báo Nhân Dân trong
năm 1961 nói về cuộc đời làm cách mạng của mình từ khi bỏ nước ra đi năm 1911
làm dư luận rất ngạc nhiên. Ông Hồ Chí Minh lúc đó đã nổi tiếng toàn thế giới,
ông không có nhu cầu mang tên một người khác để viết báo ca tụng mình.
Hơn nữa
tài liệu đó cũng không ca tụng gì Hồ Chí Minh nhiều, mà chỉ ghi lại câu chuyện
“Bác” kể lại cho đoàn tùy tùng tháp tùng ông từ Phủ Chủ tịch ở Tuyên Quang vượt
rừng vượt núi đi quan sát chiến dịch biên giới năm 1950 với mục đích chứng minh
“Bác” và Nguyễn Ái Quốc là một người. Nhưng một số chi tiết trong câu chuyện lại
vô tình chứng minh “bác” không thể là Nguyễn Ái Quốc
“Bác” kể lại chuyện bác là Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái
Quốc đi Pháp hoạt động như thế nào một cách liên tục cho đến năm 1950 lúc bác
đang đi chiến dịch biên giới. Nhưng trong câu chuyện người thuật chuyện là Trần
Lan không nói trong thời gian 1933 đến 1938 bác làm gì ở Mạc tư Khoa. Thời gian
tế nhị này không có gì để nói vì Nguyễn Ái Quốc vừa chết và Quốc tế Cộng sản
đang cải tạo Hồ Tập Chương đóng vai Nguyễn Ái Quốc. Dùng người khác thay mình
thuật chuyện ông Hồ có ẩn ý nói ông có kể nhưng (có thể) người thuật chuyện
không ghi lại thôi.
Một nơi khác khác trong tài liệu “Vừa đi vừa kể chuyện” ông
Hồ Chí Minh nói năm 1942 khi từ Việt Bắc đi Trung quốc ông bị bắt. Ông kể ông
đã lợi dụng sự tiếp xúc với tù nhân để học tiếng Quan thọai. Thế nhưng dấu đầu
lòi đuôi, trong thời gian 14 tháng ở tù ông đã sáng tác 134 bài thơ bằng chữ
Hán mà chỉ những người tinh thông chữ Hán mới làm nổi.
Về tập “NGỤC TRUNG NHẬT
KÝ”
Chính quyền đảng Cộng sản Việt Nam đã làm ầm ĩ tập thơ ‘Ngục Trung Nhật
Ký’” còn gọi là “Nhật ký trong tù” gồm 134 bài thơ bằng chữ Hán ông Hồ Chí Minh
làm trong thời gian (1942) ông bị Quốc Dân Đảng bắt tại QuảngTây để quảng bá
văn tài của “Bác” .
Tháng 5/1960 nhà xuất bản Ngoại văn Hà Nội cho xuất bản tập
“Nhật Ký trong tù” gồm 100 bài thơ dịch ra Việt ngữ. Chính phủ Trung quốc cũng
cho in lại phần chữ Hán dưới nhan đề “Nhật Trung Nhật ký thi sao”. Cuối năm
1977 Viện Văn học Việt Nam cho lập một tiểu tổ nghiên cứu và bổ túc Nhật ký.
Năm 1983 nhà Xuất bản Văn Học cho in 113 bài. Đến tháng 5/1990 nhân kỷ niệm 100
năm sinh nhật Hồ Chí Minh, nhà Xuất bản Văn Học bổ túc thêm 21 bài tổng cộng
134 bài.
Theo một đề án phân tích thơ văn của giáo sư Hoàng Tranh ở Quảng Tây
năm 1992 thì một số thơ trong “Nhật ký trong tù” dùng từ ngữ và phương ngôn thuộc
sắc tộc “Khách Gia” được chuyển hóa ra Trung Văn một cách nhuần nhuyễn và nghệ
thuật. Tác giả không thể là Nguyễn Ái Quốc vì Nguyễn Ái Quốc không thể giỏi Hán
văn như vậy, chưa nói việc làm sao ông nắm vững ngôn từ của sắc tộc Khách gia ở
Đài Loan. Qua “Nhật ký trong tù” đảng Cộng sản Việt Nam muốn quảng bá trí tuệ
và văn tài của Hồ Chí Minh, nhưng vô tình đã làm lộ Hồ Chí Minh không phải là
Nguyễn Ái Quốc.
Thời gian đảng Cộng sản Việt Nam có nhiều nỗ lực chứng
minh Hồ Chi” Minh là Nguyễn Ái Quốc
Thời gian này đều rơi vào thập niên
1950-1960 sau khi ký Hiệp Định Geneve chia đôi đất nước, và Hồ Chí Minh đã trở
về Hà Nội với tư cách Chủ tịch đảng và nhà nước Việt Nam:
(1)
Năm 1957 lần đầu tiên Hồ Chí Minh trở về thăm quê nhà ở Nam Đàn
(2)
Năm 1961 Nhân Dân Nhật Báo đăng tải loạt bài “Vừa đi đường vừa kể chuyện”.
(3) Năm 1960 Hồ Chí Minh cho mời vợ chồng luật sư
Frank Loseby người đã cứu Nguyễn Ái Quốc ra khỏi nhà tù Anh quốc ở Hương Cảng
năm 1931 tới Hà Nội. Luật sư Loseby qua tin tức tưởng Nguyễn Ái Quốc đã chết.
Nhưng thông tin truyền miệng của đảng Cộng sản Việt Nam cho thấy đó chỉ là tin
bịa đặt để ông có thể chạy trốn khỏi Hương Cảng. Và luật sư Loseby không có lý
do gì để không tin. Dạng hình Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh khác nhau chút ít
thì luật sư cũng nghĩ do thời gian cách biệt 28 năm. Lúc đó luật sư Loseby đã
80 tuổi. Hơn nữa đối với người Tây Phương người Á châu nào trông cũng giống
nhau khó phân biệt (năm 1946 Hồ Chí Minh đến Paris dự hội nghị Fontainebleau nhận
là Nguyễn Ái Quốc cũng không người Pháp nào từng biết Nguyễn Ái Quốc của những
năm 1919, 1920 thắc mắc có thể cũng vì vậy)
Người ta có thể đặt giả thuyết rằng
trong thời gian đấu tranh cách mạng dưới sự chỉ đạo và nhờ vả Quốc tế Cộng sản
qua trung gian Liên bang Xô viết và Trung quốc, đảng Cộng sản Việt Nam và đàn
em thân tín chung quanh Hồ Chí Minh chưa quan tâm đến nhân thân của Hồ Chí Minh
là một người Hoa và không phải là Nguyễn Ái Quốc.
Nhưng sau Hiệp Định Geneve,
cuộc đấu tranh chống Pháp xem như đã thành công, một chính quyền đã được thiết
lập tại Hà Nội. Việc Hồ Chí Minh, một người Đài Loan làm chủ tịch nước trở
thành cấn cái cho Đảng và cho chính cá nhân Hồ Chí Minh. Cho nên đảng Cộng sản
Việt Nam, đảng Cộng sản Trung quốc và cá nhân Hồ Chí Minh có nhu cầu chứng minh
Hồ Chí Minh và Nguyễn Ái Quốc là một.
Cuốn sách “Tìm hiểu về cuộc đời của Hồ
Chí Minh” của Hồ Tuấn Hùng với lối sưu tầm khoa học dẫn chứng đầy đủ và khả tín
bắt đầu vén hẵn lên bức màn che đậy lai lịch của Hồ Chí Minh.
Vấn đề đặt ra là sự thật này ảnh hưởng thế nào đến cuộc
tranh chấp biển đảo hiện nay giữa Trung quốc và Việt Nam. Cuốn sách bằng Hoa Ngữ
của ông Hồ Tuấn Hùng do nhà xuất bản “Bạch Tượng Văn Hóa” xuất bản tại Đài Loan
tháng 11/2008 là thời điểm quan hệ giữa Trung quốc và Việt Nam bề ngoài “16 chữ
vàng” và “4 tốt”, nhưng bên trong bắt đầu trở nên căng thẳng./.
Tài liệu sưu tầm
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét