Từ những hán tự ở chùa Bái Đính
Vừa rồi, đi chùa Bái Đính, bỗng nghe một du khách người Hà Lan, hỏi câu hơi sốc:
- Cụm chùa này của Trung Quốc à?
Ngẫm ra, thấy “tư duy” của vị du khách có lý. Ấy là các biển hiệu ghi tên cho từng ngôi chùa ở đây, rặt chữ Hán, không nhìn thấy bất cứ một chữ Quốc ngữ Việt Nam nào.
Những ngôi chùa có tuổi thọ từ hàng trăm năm, có giá trị lịch sử, không dám lạm bàn; còn đây là hệ thống chùa quy mô lớn nhất nước, mới xây dựng từ khoảng chục năm đổ lại, vậy có thể trao đổi chút chăng?
Ngẫm ra, ở ta, bảo tồn nguyên vẹn chữ hán cổ tại đình chùa, miếu mạo… chưa hẳn đã đúng là bảo vệ những giá trị… Thì ngay tại Trung Quốc, vì tính khoa học, sự tiện dụng nào đó, họ cũng “phớt lờ” giá trị lịch sử hàng nghìn năm của chữ hán cổ. Bằng chứng: ở nước họ, hiện song hành hai dạng chữ hán- Đó là phồn thể (chữ Hán cổ) và giản thể (chữ hán đã cải cách, để đơn giản hơn, từ việc lược bớt các đường nét. Bộ chữ này được Nhà nước Trung Quốc, ban hành từ năm 1950, để sử dụng trong toàn quốc và trong một số cộng đồng Hoa kiều)
Thời phong kiến, từ triều Trần, những nhà trí thức yêu nước Việt Nam cũng không “quý gì” chữ hán. Vì thế, hệ chữ nôm ra đời, cốt thay dần chữ hán. Nhằm đề cao loại “văn tự” này, tôn niềm tự hào của dân tộc Việt Nam, vua Quang Trung đã dùng chữ nôm để viết và phê văn bản. Trong kho tàng văn học sử nước ta, chữ nôm đã chiếm được giá trị cao nhất- đó là Truyện Kiều của Nguyễn Du. Đến đầu thế kỷ XX, vì sự tiện dụng của hệ chữ Quốc ngữ, các nhà trí thức yêu nước đã có nhiều phong trào dài hơi, rộng khắp, để đưa chữ Quốc ngữ vào “thiết chế xã hội”; vào đời sống văn hóa hàng ngày. Những cố gắng của họ, đã đạt được thành công tuyệt đối.
Điểm mốc đánh dấu chữ hán chính thức bị đẩy xuống hàng thấp hơn, dẫn đến lu mờ dần, ấy là năm 1919, Nhà cầm quyền Pháp quyết định loại bỏ hán tự ra khỏi các khoa thi cử ở Đông Dương. Đến nay, có thể nói - chữ nôm, chữ hán chỉ còn là những hiểu biết thuộc diện “chuyên môn hẹp” của một số ngành ít ỏi, của một số người ít ỏi mà thôi. Bởi lẽ, lớp dân Việt Nam độ tuổi khá cao “tri thiên mệnh”; “nhĩ thuận” khoảng 50 hoặc 60, hầu như đã “mù chữ hán”. Đến bây giờ, hầu hết lớp người trên, đứng trước biển hiệu của đình chùa, câu đối bằng hán tự, thường là không còn đọc nổi. Vậy thế hệ ít tuổi hơn, lại càng xa lạ với thứ chữ Phương Bắc này.
Cái thời mới mở cửa giao thương hội nhập những năm gần đây, một dạo, khá nhiều các công ty, doanh nghiệp vì sính chữ Anh, đề biển hiệu rặt bằng tiếng nước ngoài. Để khẳng định niềm tự hào dân tộc, trước thực trạng đó, Nhà nước ta đã quy định, đại ý - các công ty doanh nghiệp, trên biển hiệu của mình, dòng chữ chính, to nhất là chữ Quốc ngữ; còn chữ nước ngoài đi kèm, phải nhỏ hơn.
Quay lại câu chuyện các chùa Bái Đính, người trong nước đến đây còn không biết mấy về chữ hán; vậy khách nước ngoài càng mơ hồ, cho rằng đó là “chùa của… nước ngoài”, ấy là cái lỗi của người mình. Nên chăng, ở các chùa này, trên biển hiệu, ít ra cũng có dòng chữ Việt đi kèm để “thuyết minh” cho đông đảo người đến thăm được rõ.
Trọng Khang
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét